Phạm Thiên Thư - Đạo ca giữa thành vách sương mù

 13:12 | Thứ bảy, 13/06/2026  0
Phạm Thiên Thư sinh năm 1940 tại Thái Bình, vào Nam năm 1955, từ 1964 xuất gia với pháp danh Thích Tuệ Không. Ông hoàn tục năm 1973, cũng là năm mà sự nghiệp thi ca của ông được ghi nhận bằng Giải thưởng Văn chương toàn quốc (Nam Việt Nam) với tác phẩm Hậu Kiều - Đoạn trường vô thanh.

Vài năm cuối đời, ông mắc chứng lúc nhớ lúc quên, nhưng vẫn còn đi lại được. Thi sĩ Phạm Thiên Thư qua đời vào chiều ngày 7.5.2026 trong sự nuối tiếc của người thân, bạn bè. Trên mạng xã hội tưởng nhớ ông, xuất hiện vài đoạn clip quay lại cảnh sinh hoạt văn nghệ, khuôn mặt ông gần như “trả nhớ về không”. Bạn bè ông hát lại những giai điệu quen thuộc mà Phạm Duy phổ thơ ông: Ngày xưa Hoàng thị, Đưa em tìm động hoa vàng, Gọi em là đóa hoa sầu…Người hát cầm tay ông như muốn khơi dậy “thân thức” trong ông, gợi lại chủ đề của Đạo ca 6: Lời ru, bú mớm, nâng niu - nhân sinh không còn là tù ngục với con người…”. 

Người ta nói nhiều đến ông, về một tu sĩ làm thơ tình. “Nếu Phạm Thiên Thư sớm tối miệt mài kinh kệ, một bước không ra khỏi cổng chùa, không biết tới chuyện hẹn hò, không hề lẽo đẽo đưa em này đi rước em nọ về v.v.. thì nền thi ca của chúng ta thiệt thòi biết bao. Lại thử tưởng tượng Phạm Thiên Thư quanh năm suốt tháng chỉ những em này em nọ dập dìu, nhớ thương ra rít, mà không màng tới kinh Hiền kinh Ngọc, không biết chuông biết mõ gì ráo, thì trong kho thi ca tình ái của ta cũng mất hẳn đi một sắc thái đặc biệt chứ” - Võ Phiến

Rõ ràng, cái tình của Phạm Thiên Thư rất riêng, cho dù cũng đa sầu, đa cảm như ai, nhưng tâm thức nhẹ nhàng như một chiếc lá rơi mất hút dưới mặt hồ thu: Dáng em nho nhỏ/trong cõi xa vời (Ngày xưa Hoàng thị)

Và chính ông cũng đã phác họa:

... Hỏi con vạc đậu bờ kinh
Cớ sao lận đận cái hình không hư
Vạc rằng: Thưa bác Thiên Thư
Mặc chi cái áo Thiền Sư ỡm ờ...

(Động hoa vàng)

Một là tất cả - tất cả là một

Phạm Thiên Thư làm thơ lúc còn rất trẻ, trước khi bước vào cõi thiền, có lẽ vì vậy ông đem cả sự lãng mạn, mơ mộng vào cửa Phật. Ông từng kể về ước mơ từ thuở nhỏ theo mẹ đi lễ chùa Côn Sơn (Chí Linh - Hải Dương). Một lần trở về nhà ông khóc đòi mẹ cho đi tu ở ngôi chùa này. Lúc đó ông bị mê hoặc hình ảnh sương lam bao phủ và sân chùa hoa ngọc lan trắng rụng đầy. Giấc mơ của cậu bé bảy tuổi trở thành hiện thực sau mấy năm vào tới miền Nam.

Thi sĩ Phạm Thiên Thư (1940 - 2026). Ảnh: CTV


Trong một bài phỏng vấn trên tạp chí Bách Khoa (7.1971) ông giải bày: “Sau này khi nghiên cứu về triết lý Phật giáo, tôi càng thấm cảm hơn nhất là tinh thần bất nhị, một cái nhìn về hiện hữu một cách toàn diện và màu nhiệm khiến dễ dung hợp với tâm lý nghệ thuật của mình, đó là lý do khiến tôi tìm được sinh thú trong cuộc sống tu hành”.

Vào đầu thập niên 70, giữa lúc miền Nam đang chìm trong khói lửa chiến tranh, loạn lạc - sự thật chân lý được hiện bày bởi súng đạn, xương máu, hận thù. Đạo ca giữa thành vách sương mù - một dự án âm nhạc - thi ca với sự hợp tác giữa thi sĩ Phạm Thiên Thư và nhạc sĩ Phạm Duy ra đời trong bối cảnh xã hội đó. Có lẽ đây là một tác phẩm nghệ thuật duy nhất cho đến nay là thành quả tác hợp ngay từ đầu, từ ý tưởng, giới thiệu chủ đề, in ấn rồi trình bày qua giọng ca của Thái Thanh.

Mười bài Đạo ca với 10 chủ đề khác nhau, thi tứ, nhạc đề đều bắt nguồn từ thực trang xã hội đau khổ lúc đó, nhưng lại dẫn dắt người nghe đạt đến cảm thức về cái toàn thể, nhân sinh quan rộng mở, để nhìn ra chân lý vĩnh hằng theo tinh thần Phật giáo.

Một lần vô tình, nhạc sĩ Phạm Duy tiếp cận được hai bản thảo thi hóa kinh Phật của Phạm Thiên Thư, là tập bản thảo Kinh Ngọc (Kim Cương kinh) và Kinh Thơ (Pháp Cú kinh) trong đó có bài Pháp thân. Đạo ca 1 ra đời trước tiên.

Xưa em là kiếp chim,
Chết mục trên đường nhỏ
Anh làm cội băng mai,
Để tang em, chờ mấy thuở
Xưa em làm kiếp lá,
Rụng xuống lòng suối thu
Anh làm mưa tháng bẩy,
Đôi hàng lệ ướt tương tư…

Và:

A ha, ta tuy hai mà một!
A ha, ta tuy một mà hai!

“Ở đây vũ trụ hiện bày như một toàn thể sinh hóa, một tương duyên mật thiết, không còn một vực bờ hữu hạn, xóa bỏ tất cả ý thức về Ngã và Phi Ngã, mọi dấu chân tìm kiếm ngoại vật - một là tất cả - tất cả là một”. (Phạm Thiên Thư giới thiệu chủ đề Đạo ca một)

Thi sĩ Phạm Thiên Thư trong một dịp hội ngộ nhạc sĩ Phạm Duy tại TP.HCM, tháng 6.2011. Ảnh: CTV


Sau khi đọc xong hai bản thảo nói trên, Phạm Duy đề nghị Phạm Thiên Thư rút gọn lại, soạn thành các chủ đề khác nhau. Ngoại trừ bài đầu tiên Đạo ca 1 (Pháp thân) là thơ có sẵn, các bài còn lại Phạm Thiên Thư viết lại trên tinh thần cô đọng nhất từ những bộ kinh Phật, Đạo Đức kinh, Thánh kinh Cựu ước và Nam Hoa kinh… nhưng xuyên suốt thấm đẫm Thiền đạo. Như Đạo ca 4 nhan đề Quán Thế Âm:

Bốn mùa hoa đua nở, bốn mùa Mẹ lang thang
Tìm con, lòa đôi mắt, gọi con, lời đã khan
Khóc con, lệ đã cạn, thương con, lòng vắng hoang
Nhớ con, sầu đã ngất, đợi con, hồn đã tan.

Thế rồi, một hôm Mẹ chết, hơi Mẹ trong trời chưa hết
Ôm cả trần gian đầy vơi, nhân loại đeo tang người
Tim Mẹ thành ra trùng dương, máu Mẹ thành sông thành nước
Ôi đời trầm luân, Mẹ thương, chiếu ánh sáng từ quang.
Bây giờ Mẹ đã thành mơ, hơi Mẹ hóa thành hơi gió
Bốn mùa ngồi nghe mọi nơi, tiếng Mẹ ru bồi hồi…

Lời thơ kéo người đọc trực diện với mất mát đau thương, hình ảnh một người mẹ đi tìm con trong một hiện tình đất nước điêu linh, rồi lại mở ra trong tâm cảm con người một bà mẹ biểu tượng của tình thương, cứu độ thế gian. Không phải là một bà mẹ cụ thể nào đó, mà đó chính là “quá trình cá nhân bước vào đại thể hay là con đường nhập thế của nhỉ thức (sự phân biệt của tai) - nghe khắp tiếng kêu thương của cuộc đời để hóa thân cứu độ” - Phạm Thiên Thư

Trong Đạo ca, Phạm Thiên Thư đi từ ngũ căn (về mặt sinh lý) gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân/da cùng ý thức mà con người hình thành quan niệm ở cõi trần, để từ đó trình bày hành trình giải thoát của con người.

Hơn 50 năm trước thi sĩ Phạm Thiên Thư giải bày “Về nguyện vọng mà tôi thiết tha nhất là thoát khỏi những phạm trù tư tưởng để ra đi như một cánh chim ca hát giữa vòm trời của KHÔNG vòm trời, là thái độ mà Thiền đạo gọi là “giết Phật” (Phùng Phật sát Phật) để thực sự nhào đầu xuống dòng tâm linh giác ngộ. Lối sống và ước vọng đó khiến cho tôi không mấy thích hợp trong một vài hoàn cảnh hiện giờ. Nhưng, thái độ chân chính của Phật tử là tin vào chính mình và giải hòa nỗi hư vọng trong chính mình để giải phóng tù ngục của hoàn cảnh; nên tôi vẫn yêu đời và cảm ơn tất cả mọi khốn đốn”.

Trang bìa tập nhạc Đạo ca.


Hãy đọc Đạo ca 5 - Một cành mai hay là tưởng niệm sinh viên Nhất Chi Mai  đã tự thiêu đêm 16 tháng 5 năm 1967, tại khuôn viên chùa Từ Nghiêm (Sài Gòn), chị đã tự tưới xăng và châm lửa tự thiêu.  Di bút để những thông điệp tập trung kêu gọi chấm dứt chiến tranh, mang lại hòa bình và tình yêu thương cho dân tộc.

Nước mắt bỗng ngừng trôi, khi người đã nguyện dâng
Thân mình làm đuốc hồng, cho đòng lúa trổ bông
Cuộc sống chết nào đây? Đau buồn sẽ đổi thay
Đem mình vào kiếp người, thoát khỏi nỗi tử sinh…

(Đó là hiện thân của kẻ vượt thắng nỗi lo sợ về cái chết, vì chết và sống chỉ là sự đắp đổi, thăng hóa trong một toàn thể miên viễn, ở đây diễn tả hương thơm đặc trưng của tỷ thức - sự phân biệt của mũi) - Phạm Thiên Thư

Phạm Duy quen biết với Phạm Thiên Thư vào năm 1971. Phạm Duy kể lại, nhờ đó mà ông thoát xác, vượt qua những đắng cay chán chường và bế tắt của Tâm ca, Tâm phẫn ca, Vỉa hè ca. Cuộc gặp gỡ đó đã để lại cho đời nhiều tác phẩm vang bóng đến ngày hôm nay. Trong mười bài Đạo ca, Phạm Thiên Thư cho biết, ông thích nhất là Đạo ca 7 - Qua suối mây hồng, với tiểu đề là Vô ngôn, diễn tả cuộc chiến của Sơn Tinh và Thủy Tinh tranh nhau trái tim của Mỵ Nương. “Sau cùng Sơn Tinh, sự vắng lặng của ý niệm ngôn ngữ cùng người đẹp hóa thân vào Đạo thể, còn lưu lại đỉnh núi bản siêu hùng ca, thúc dục loài người thoát khỏi ý niệm, ngôn ngữ, thể nhập vào uyên cõi tịch mịch…”.

Những bài khác, nhiều chữ ông phải đổi lại cho hợp với khung nhạc, nhiều khi cũng đành chấp nhận bỏ luôn. “Tóm lại qua mười bài Đạo ca tôi vì “tứ” mà phải hạn “từ”, anh Duy vì “âm” mà phải bớt “tứ”. Đó là cả một nổ lực để hòa hợp tương xứng giữa lý tưởng-từ hoa-và âm điệu”.

Trong quan niệm của Phật giáo, ánh sáng tuyệt đối chính là Chân lý tối hậuTrí tuệ giác ngộ. Nó không chiếu từ một nguồn sáng bên ngoài vũ trụ, mà chính là ngọn đèn tự tính sáng suốt và từ bi nằm sâu trong tâm thức của mỗi người. Các chủ đề khác trong Đạo ca gồm: Đại nguyện (Đạo ca 2); Chàng dũng sĩ và con ngựa vàng hay là ảo hóa (Đạo ca 3); Giọt chuông Cam Lộ hay là duy tuệ (Đạo ca 8); Chắp tay hoa hay là qui y (Đạo ca 9); Tâm xuân hay là tam giáo đồng nguyên (Đạo ca 10).

Vào năm 1971, nhà nghiên cứu và phê bình âm nhạc người Canada G.E Gauthier (1923 - 1985) viết lời giới thiệu cho tuyển nhạc này với tựa đề Tiến về ánh sáng và lời kết như sau: “Mỗi trong chúng ta đều được (Phạm Thiên Thư và Phạm Duy - NV) kêu gọi vượt thoát khỏi cuộc đời vật chất này để đạt tới thế giới vô sắc, đạt tới nguồn gốc của ánh sáng. Bởi vì chỉ có những cái gì không thể nhìn thấy mới thực là đẹp vậy” (Thu Thủy dịch).

Đoạn trường vô thanh

Cuối năm 1972, tập Đoạn trường vô thanh (hậu Kiều) ra mắt độc giả, với lời khen chê trái ngược nhau trên văn đàn. “Vô thanh như tiếng reo ca bát ngát của nhật nguyệt khiến giọt lệ Vương Thúy Kiều trở thành sợi mây hồng cất cánh vèo bay qua tài mệnh nhị tướng kết nên hạt minh châu viên xá lợi của bậc nguyện vào địa ngục là thái độ tịch nhiên sấm sét của người vác thập tự trong cuộc đoạn trường là vòm trời xanh biếc…” (Lời tựa - Phạm Thiên Thư)

Phạm Thiên Thư cho biết vì quá yêu mến thiên tài Nguyễn Du và thi ảnh trong truyện Kiều theo ông suốt thời thơ ấu với lời ru của mẹ, nên ông bắt tay nối tiếp Kiều. Ông nói “Đoạn trường tân thanh nặng về trình bày lẽ nhị nguyên (Tài - Mệnh) mà nhẹ về nhất nguyên của đời sống nội tâm. Từ yêu mến và suy niệm trên, khiến tôi muốn vẽ một bộ tranh về Thúy Kiều về tâm trạng của nàng… bằng chất liệu và bối cảnh Việt Nam bây giờ”.

Ông quan niệm tác phẩm thứ 6 của mình là “một bộ tranh bằng thơ” gồm 3.294 câu lục bát. Ông chia ra làm 27 chương, bắt đầu nói về tâm thức của Thúy Kiều sau cuộc đoạn trường (khổ đế): 

Đoạn trường gói sổ tên Hoa

Xưa là giọt lệ nay là hạt châu…

Vì là “một bộ tranh bằng thơ” nên ông tránh tính cách kể chuyện mà mô tả thực chất của tình yêu Kim, Kiều: Ý người nổi sóng mây trôi/chốn xa tìm đến, đến rồi lại đi.

Ông tiếp tục rẽ nhánh Kiều theo suy niệm của mình… với bức tranh cuối cùng:

Lá dài cong nhịp cầu xanh

Vượt qua đoạn lệ trổ nhành hoa tiên

Từ hoa (thiên hương) hé nụ cười hiền

Biến thân giữa (qua) vạn bút nghiên hóa người

Sau ngày 30.4.1975, Phạm Thiên Thư gần như sống ẩn dật với nhiều cuộc mưu sinh, từng mở quán cắt tóc ở khu vực Tân Bình, rồi mở quán tạp hóa, rượu thuốc. Nhiều năm sau đó ông mở quán cà phê Hoa Vàng ở cư xá Bắc Hải, cho đến ngày từ giã cõi tạm.

Một số tác phẩm chính của Phạm Thiên Thư

Thơ Phạm Thiên Thư (1968); Kinh Ngọc (thi hóa Kinh Kim Cương); Động hoa vàng (thơ, 1971); Đoạn trường vô thanh (1972); Kinh thơ (thi hóa Kinh Pháp Cú); Quyên từ độ bỏ thôn Đoài (thơ, 1974); Suối nguồn vi diệu (1973); Kinh Hiếu (thi hóa kinh); Hội Hoa Đàm (thi hoá Kinh Hiền, gồm 12.000 câu lục bát, 1973); Ngày xưa người tình (thơ); Trại hoa đỉnh đồi (thơ, 1975); Tự điển cười (24.000 bài tứ tuyệt tiếu liệu pháp); Vua núi vua nước (tức Sơn Tinh - Thủy Tinh, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2003); Hát ru Việt sử thi (thơ, 2012); ...

Duy Thông

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
Cùng chuyên mục
Xem nhiều nhất

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.