SOS: Có ai tận cuối chân trời chí nguy…

 12:00 | Thứ tư, 15/11/2017  0
Trong giao tiếp tiếng Việt giờ đây, tổ hợp kí tự SOS có lẽ đã quen thuộc với mọi người. Khi được hỏi, nhiều người đã hồn nhiên trả lời rằng: "SOS có nghĩa là nguy hiểm, hoặc cần cứu giúp, nếu không sẽ rơi vào tình trạng rủi ro, bất lợi".

Ảnh: TL

Đôi lúc, ta thấy trên các trạm biến thế, tủ điện, kho chứa vật liệu nổ hay các xe cấp cứu ngoài đường, người ta cũng viết dòng chữ SOS (kèm theo dấu chấm than (!)) để cảnh báo.

Vậy nguyên do từ đâu mà có ba kí tự chữ cái này?

Đầu tiên, đây là tín hiệu của ngành Hàng hải, phát bằng vô tuyến điện báo (morse) hoặc bằng một cách truyền tin nào đó, thể hiện bằng 3 kí tự SOS. Rất đơn giản, nhưng lại mang một dấu hiệu khẩn cấp, chỉ sự tình ai đó gặp nguy hiểm, đang bị đe dọa nghiêm trọng.

Những thủy thủ đi biển thường gặp nhiều rủi ro, như bất ngờ đâm phải đá ngầm, gặp giông bão làm chìm thuyền, bị cướp biển hay kẻ địch tấn công. Tất cả những tình huống đó đều cần sự trợ giúp ngay lập tức.

SOS là viết tắt của 3 từ tiếng Anh: Save Our Ship, có nghĩa là "Hãy cứu lấy thuyền (tàu) chúng tôi". Cũng có người cho rằng, đó là tổ hợp từ Save Our Souls (Hãy cứu lấy linh hồn chúng tôi). Nhưng dù hiểu theo cách nào thì SOS cũng là một thông điệp ngắn gọn, quen thuộc tới mức ai nhận được cũng phải lập tức tìm mọi cách cứu giúp đối tượng đang kêu cứu.

Quy ước tín hiệu SOS được đề xuất lần đầu tiên tại Hội nghị Quốc tế về Liên lạc Điện tín trên biển ở Berlin (Đức) năm 1906. Nó đã được cộng đồng quốc tế phê chuẩn năm 1908 và được sử dụng rộng rãi từ đó.

Luật biển của nhiều nước còn quy định, bất cứ tàu thuyền đi trên biển nhận được tín hiệu này (trong phạm vi bán kính 50km) đều phải có trách nhiệm lên phương án cứu giúp. Trong trường hợp bất khả kháng thì phải đánh tín hiệu nối báo hiệu cho các phương tiện khác có khả năng tham gia cứu giúp.

Trong tiếng Việt, giờ đây, ngoài ý nghĩa "cứu giúp khẩn cấp" trên, SOS còn được sử dụng trong những trường hợp chỉ tình huống khẩn thiết trong đời thường, không chỉ trên biển mà còn trên đất liền. Nhiều khi các báo chí giật tít để gây sự chú ý về hiện tượng nào đó cần lưu ý: Ô nhiễm sông Thị Vải: SOS, Đê Yên Phụ: SOS, Vấn nạn dạy thêm học thêm tràn lan: SOS, Chuyện BOT Cai Lậy: SOS... Người ta còn dùng để đặt tên cho các địa danh, dịch vụ: Làng trẻ em SOS, Phòng khám SOS, Xe cấp cứu SOS...

Vậy là, SOS đã đi từ điện tín đến đời thường, trở thành một từ mới, mang nghĩa chung là “khẩn cấp, chí nguy”.

Ba chữ đơn giản thế thôi
Có ai tận cuối chân trời chí nguy!

PGS-TS. Phạm Văn Tình

TAGS
bài viết liên quan
Loading...
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.