Từ chiến tranh đến tự do của Van B. Choat: “Tôi không có sự hận thù...”

 08:17 | Thứ hai, 30/04/2018  0
Tôi gặp Van B. Choat lần đầu trong chuyến trở về Việt Nam của chị năm 2017, lần đó chị đã dành cho tôi buổi trò chuyện ngắn ngủi giữa bộn bề các kế hoạch gặp gỡ giao lưu nhân dịp ra mắt bản dịch tác phẩm Phải sống của chị. Ấn tượng đầu tiên về chị trong tôi là hình ảnh người phụ nữ đôn hậu, có khuôn mặt quý phái, nhưng trong đôi mắt đen đượm buồn có dáng hình một đứa trẻ Việt Nam mồ côi cha mẹ do chiến tranh, trải qua cuộc đời luân lạc, cuối cùng phải lìa bỏ quê hương đến nước Mỹ. Sớm góa bụa, chị làm mẹ đơn thân nuôi nấng hai con khôn lớn thành người thành đạt. 

Hồi ký Undaunted A Memoir được chị hoàn thành vào năm 2016, bản dịch tiếng Việt mang nhan đề Phải sống ra mắt bạn đọc năm 2017 đã thu hút được sự chú ý của dư luận. Tôi có cảm giác những gì được viết ra trong sách chỉ là phần nổi, câu chuyện đằng sau vẫn còn nhiều hứa hẹn. Cuộc trò chuyện với Van B. Choat lần này hy vọng sẽ cho tôi biết những điều nằm ngoài con chữ, những gì chị chưa nói hết. 

Phải sống đã thực sự hiện diện trong đời sống sách vở ở Việt Nam, cảm giác của chị thế nào về bản dịch?

Niềm mơ ước xuất bản câu chuyện của tôi ở Việt Nam đã trở thành hiện thực. Tôi biết bản dịch rất khó, nhưng đã được hoàn tất rất chuyên nghiệp. Dịch giả Hoàng Phương và tôi đã làm việc rất chặt chẽ với nhau trong suốt quá trình này. Những người làm công việc dịch thuật đều hiểu bản dịch thường không hoàn hảo.

Trong buổi giao lưu với độc giả ở đường sách Nguyễn Văn Bình (TP.HCM) vừa rồi, chị thấy độc giả đón nhận tác phẩm của chị thế nào, điều gì độc giả quan tâm nhất khi tìm đọc sách của chị?

Buổi giao lưu cho tôi một cảm nhận sâu sắc. Đơn vị tổ chức (Phương Nam Book) đã sắp xếp rất chuyên nghiệp. Cuốn sách đã được đón nhận nồng nhiệt. Những người dừng lại ở bàn của tôi đều rất tò mò, thân thiện và hỏi nhiều câu hỏi về cuộc sống trong thời chiến khi tôi còn nhỏ, cũng như cuộc sống của tôi ở Mỹ. 

Sau khi trở về tôi vẫn nhận nhiều câu hỏi từ độc giả gửi qua Facebook. Hầu hết các câu hỏi liên quan đến cuộc sống cá nhân, về cách thức những thành viên gia đình còn sống ở Mỹ đón nhận sách của tôi. Một độc giả đặc biệt tỏ ra quan tâm rằng tôi có làm tổn thương cảm xúc của những người trong gia đình, hoặc mối quan hệ gia đình rạn nứt không? Vì trong cuốn sách của tôi, tôi phải thành thật về những giai đoạn bị vài người thân ngược đãi, trong đó một số người vẫn còn sống và là một phần của cuộc sống hiện tại. Tôi hy vọng khi đọc những lời trong sách, họ sẽ chấp nhận những lời thành thật. Những câu chuyện này đã không gây sự chia rẽ nào. Giống như chiến tranh, là chuyện đã lâu, và giống như chiến tranh, nó đã qua rồi.

Để viết được Phải sống, chị đã trở lại quê hương nhiều lần, những lần ấy chị có gặp thuận lợi hay khó khăn gì?

Những lần tôi trở về Việt Nam đều thuận lợi. Tôi đã nhận được lòng tốt từ tất cả mọi người tôi gặp trên khắp đất nước.

Anh Quang và tôi đã trải qua một số khó khăn, có những hối tiếc đau lòng liên quan đến em gái út và những người họ hàng còn sống. Khi mẹ mất, em mới được ba tháng. Cái chết của bố mẹ khiến chú Thành toàn quyền quyết định số mệnh của anh em chúng tôi. 

Như tôi đã kể câu chuyện này trong Phải sống, vì không ai có thể chăm sóc bốn anh em chúng tôi nên tôi và em gái kế phải ở lại với bà ngoại. Anh Quang và em gái út sống với gia đình chú Thành. Chỉ năm tháng sau thì em bé mất tích dưới những tình huống bất thường. Bà ngoại không thể tin những lời giải thích của chú Thành về sự mất tích của em út. 

Mỗi lần về Việt Nam, anh Quang và tôi vẫn cố gắng tìm đến những người bà con. Chúng tôi may mắn gặp được chị và em họ bên nội, cầu xin sự thật. Nhưng vì lý do gì đó mà họ không bày tỏ được, “sống để bụng, chết mang theo”.

Chị đã tiếp xúc với những người “Việt Cộng” ngày xưa từng là kẻ thù của ba chị (một người lính Việt Nam Cộng hòa), cảm xúc của chị như thế nào?

Năm 2011, anh Quang và tôi sau 36 năm trở về thăm Hồng Ngự, nơi bố qua đời. Một ông bác lớn tuổi sống cách đó vài căn nhà đã nói với chúng tôi: “Tôi ở bên kia chiến tuyến trong suốt cuộc chiến, và tôi sẽ kể lại những gì tôi biết”. Ông biết mọi thứ về bố tôi, tên ông, tên các thành viên trong trại lính, và đáng kinh ngạc nhất... cả Quang và tôi. Ông biết chúng tôi ở trong trại. Quang đã bị đau bụng, và bố đã nhờ thầy lang địa phương đưa thuốc vào đồn. Ông biết tất cả... ông say sưa kể chuyện trước khi chúng tôi đề cập đến. Tiếc là ông không có thông tin về bố tôi sau trận đánh đó. Khi nghe câu chuyện của ông, một người thực sự biết bố tôi, tôi chỉ muốn ôm ông. Ông biết chúng tôi từ thời khủng khiếp đó, và đó là mối liên hệ rất nhân bản giữa chúng tôi. 

Chiều cùng ngày, ngồi trong quán cà phê ở Hồng Ngự, chúng tôi gặp người lính già khác. Chúng tôi chia sẻ với nhau những câu chuyện cuộc đời. Cuối cùng, ông nói: “Trước đây chiến tranh diễn ra. Giờ là hòa bình. Và hòa bình thì tốt hơn”. 

Chiến tranh luôn tàn bạo, đó là điều tất cả chúng ta đều biết. Nhưng đối với những người từng là kẻ thù của bố, tôi không có sự hận thù. Đó là nghĩa vụ của họ, giống như bố tôi. Người lính già tốt bụng đã pha trà và dành thời gian cho anh Quang và tôi, chỉ nói về nỗi buồn của ông đối với sự mất mát của chúng tôi bằng tất cả chân thành. Tôi cảm thấy được an ủi và nhắc nhở tôi về tình nghĩa đồng bào.

Là đứa trẻ mồ côi do chiến tranh, buộc phải lìa bỏ Việt Nam từ rất bé, trong ký ức của chị chiến tranh là gì? Chị thấy Việt Nam hôm nay khác Việt Nam ngày xưa thế nào?

Chiến tranh với tôi là gì ư? Tôi hầu như không biết bắt đầu từ đâu. Tôi nhớ sự sợ hãi và buồn bã vì mồ côi cha mẹ. Anh trai, em gái, anh em họ, và tôi, tất cả thường phải chịu đói lúc ở chung với bà. Cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 đã nổ ra ngay trước cửa nhà chúng tôi tại Phú Nhuận. Tôi thấy những người lính từ cả hai bên chết. Thế nhưng trong những năm chiến tranh, ở Sài Gòn tôi vẫn đi học, vẫn có cuộc sống bình thường như bao đứa trẻ, vẫn có thời gian kết bạn.

Với tôi Việt Nam hôm nay đã thay đổi đáng kể và tôi thấy sự tiến bộ của mọi thứ. TP.HCM lấp lánh và sống động. Các tòa nhà hiện đại đứng cạnh chợ xưa trên đường phố quen thuộc. Tôi sung sướng khi thấy chợ vẫn còn. Các cửa hàng đều có đầy đủ sản phẩm từ khắp nơi trên thế giới. Ở những ngôi làng nhỏ nhất ở nông thôn, tôi thấy màn hình tivi sáng trong các cánh cửa mở. Tôi luôn vui mừng khi thấy nhiều doanh nghiệp nước ngoài hiện diện... điều này nói với tôi rằng Việt Nam đang nắm lấy thế giới. Và đây là sự thay đổi quan trọng nhất. Thưởng thức cà phê Starbucks vào một buổi sáng dễ chịu ở TP.HCM không phải là điều tôi nghĩ mình có thể làm nhiều năm trước.

Hai con trai của chị đều đã trưởng thành. Tình yêu Việt Nam của chị đã tác động đến các con thế nào?

Eric và Jon đều đã kết hôn, và cả hai đều cưới vợ xinh đẹp người Mỹ gốc Việt. Con trai út của tôi, Jon với vợ có bốn đứa con ngoan ngoãn.

Con trai tôi luôn chấp nhận văn hóa Việt Nam và Mỹ. Chúng tự hào vì mình là con rồng cháu tiên. Jon và Eric đã đi cùng tôi trong một vài chuyến trở về Việt Nam. 

Bốn đứa con của Jon ý thức được chúng là người Mỹ gốc Việt. Bà cố của chúng sống chung nhà cho đến khi mất gần đây. Bà cố chỉ nói tiếng Việt với tụi nhỏ. Từ bà, chúng đã học được nhiều về phong tục Việt Nam, đặc biệt là sự tôn kính người cao tuổi và các vị tổ tiên. Tụi nhỏ đã học cách “cúi đầu” kính cẩn trước các bậc trưởng bối và khách theo đúng truyền thống của người Việt.

Chị còn nhớ gì về ngày 30.4.1975 không? Đối với chị ngày ấy có ý nghĩa như thế nào?

Ngày 30.4.1975 tôi không còn ở Việt Nam. Khoảng hơn tuần trước đó tôi đã đến Mỹ. 

Là một cô gái mười lăm tuổi, tôi đã tập trung nhiều hơn vào “sự sống còn” trên vùng đất mới. Khi chúng tôi vừa dọn đến ngôi nhà đơn sơ ở vùng nông thôn Texas, chúng tôi không có tivi và cũng không có radio. 

Thậm chí lúc đó, tôi cũng không chắc chắn chiến tranh đã thực sự kết thúc hay chưa. Những suy nghĩ của tôi chỉ tập trung vào bà, chú bác, anh em họ, và bạn bè mà tôi đã bỏ lại Việt Nam. Bạn phải hiểu rằng những suy nghĩ và cảm xúc của tôi rất cá nhân, còn những sự kiện lớn đang diễn ra trên sân khấu thế giới đã vượt ra ngoài tầm của tôi.

Cảm ơn chị đã trả lời phỏng vấn và hẹn gặp lại chị ở Việt Nam vào một ngày không xa. 

Bài: Huỳnh Trọng Khang - Ảnh:  Phương Nam

HÀNH TRÌNH CUỘC ĐỜI CỦA VAN B. CHOAT

Mặc dù các giấy tờ khai sinh đã bị mất trong chiến tranh, Van B. Choat (Vân Bích Choat) vẫn biết được tên khai sinh của cô là Nguyễn Thị Hiền, sinh ra ở Rạch Giá. Ông bà ngoại của cô từng là những phú hộ giàu có ở miền Bắc, di cư vào Nam sau 1954. Như anh trai Quang và em gái Thủy, Vân chỉ gặp ba mình một vài lần trước khi ông mất tích trong một trận chiến, và trận chiến này cũng đã lấy đi sinh mạng của mẹ cô. Sau đó Vân và các anh em của mình phải sống cùng nhiều người giám hộ khác nhau, từ bà ngoại đến những người thân thích khác với nhiều kiểu bạo hành công khai.

Sau này, dì Thu của cô cưới một người Mỹ lớn tuổi và đã nhận nuôi những đứa cháu mồ côi: bắt đầu một thập kỷ dài chạy trốn khỏi chiến tranh và thoát chết trong gang tấc trong một cuộc xả súng ở Philippines. Trở lại Việt Nam, hy vọng của Vân về một cuộc đời mới lại bị đập tan khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ.
Cùng ba mẹ nuôi của mình đến sống tại một thị trấn nhỏ ở Texas, Vân làm thêm hai việc và tốt nghiệp trung học hạng ưu, được nhận học bổng của Đại học bang Oklahoma. Cô kết hôn cùng người bạn trai từ thời trung học của mình, Ronnie Choat - một người lính trong quân đội Mỹ. Cô sinh cho anh hai người con trai, chẳng bao lâu sau đó anh qua đời.

Một mình nuôi dạy hai con, Vân chuyển đến Atlanta vào năm 1990 và làm việc ở Cơ quan Đặc trách cựu chiến binh, hoàn tất việc học đại học và có bằng cử nhân kinh doanh. Trở lại Oklahoma, cô bắt đầu làm việc cho Bộ Tư lệnh Vật liệu không quân ở Tinker AFB, tham gia chương trình tập sự của lực lượng không quân và nhận bằng thạc sĩ quản trị, sau này là chuyên viên quản lý hợp đồng của không quân. Năm 2005, cô chuyển đến Trung tâm Hệ thống tên lửa và không gian USAF ở Los Angeles với vai trò phó trưởng bộ phận của nhiều phòng ban khác nhau, vị trí cô vẫn làm đến nay.

Phải sống (hành trình từ chiến tranh đến tự do của một bé gái mồ côi) là cuốn hồi ký được dịch từ Undaunted A Memoir, kể về cuộc đời nhiều mất mát, đau thương của Van B. Choat nhưng thay vì đầu hàng số phận, cô luôn nỗ lực để sống và vươn lên hết lần này đến lần khác. Tác phẩm đã nhận được nhiều giải thưởng do Nautilus Book Awards 2016 và IRWIN Award 2016 trao tặng.

bài viết liên quan
Loading...
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.