Dễ mang, không thấy nặng

 09:04 | Chủ nhật, 22/01/2023  0
Ngày chưa xa, phố nghèo, con cháu bồng bế về quê, cũng những viên gạch ông táo trên sân, cũng củi lửa bập bùng và cũng rưng rưng ký ức…

Đã thấy những mớ củi dân cư nhặt nhạnh được chất đống ý tứ bên góc tường hoặc bên gốc cây đô thị. Là những nhánh bàng, nhánh bồ đề, nhánh me, nhánh bằng lăng… Mớ củi như thể có hồn. Ai nghĩ ngợi, ai để tâm, ai mẫn cảm chút xíu, sẽ biết củi ấy để làm gì. Không phải làm ra khói để xua muỗi, xua tà khí - không, nhất quyết không.

Không phải để cho chị em quét rác ban đêm đốt lên cho đỡ lạnh (ở miền Bắc thì có thể). Không phải vì thói tiết kiệm trong gien của người nhau cuống với nông thôn. Không để phòng chiến tranh bất thần như bên Ukraine, không lo xa đến mức ấy. Cũng không dành cho đại dịch quay lại và thành phố sẽ lockdown - không, lẽ nào trời hành con người đến mức ấy.

Củi dầm mưa, sang tháng 11 hết mưa, củi ấy dầm nắng. Một mớ nguyên, một đống đầy khô dần rồi khô nẻ trong nắng gió miền Nam. Người không sở hữu chúng, cũng thấy lòng xôn xao khi nghe mùi của chướng từ biển vào, từ sông lên.

Gió chướng là gió bấc, cũng có nghĩa là gió từ Bắc tràn vào, biết ở ngoài kia người dân co ro, nhà nghèo đành sưởi bằng than tổ ong và năm nào cũng có người chết vì khí độc trong phòng kín. Gió chướng vào với Nam bộ, với Sài Gòn là đi cùng với nước bạc leo lẻo ở mọi dòng sông. Gió rất nhiều, gió se se, gió rất lành và gió thơm thơm. Mùi gì, chỉ có thể định nghĩa là mùi nước bạc.

Lá chuối và lá dong. Ở miền Tây lên, ở Bắc vào, ngốt ngát các chợ như mao mạch của Sài Gòn. Ngày càng nhiều dây chuối và dây lạt, do người tiêu dùng khôn ra, sợ cái thứ dây nylon nấu nhiều giờ, ngấm độc vào sản phẩm. Nếu chỉ để gói nem, tré, gói một số thứ khác thì lá và lạt không về ùn ùn như vậy.

Hẳn các bạn biết tôi đang đi vòng vòng với thứ gì. Ấy là, theo tôi, thứ mà người Việt miền nào cũng không thể để nó thiếu vắng trong đời sống của mình, đời sống cho dù đô thị hóa hàng trăm năm và có lẽ, hàng trăm năm nữa vẫn cứ có mặt chúng.

Ảnh Tuấn Nguyễn


Lao xao khu phố. Người sống với nhau chung cư nhiều tầng “bán bà con xa mua láng giềng gần” xăm xắn góp. Năm ba căn hộ một khoảnh xi măng diện đất không lưu và một đống củi sẵn từ trước. Nhìn từ trên cao thấy từng khóm, từng khóm xống áo nhiều màu, đàn ông, đàn bà, trẻ con và cả người già. Họ làm từ bao giờ và ở căn hộ của ai mà chỉ thấy thứ nửa thành phẩm ấy được bê xuống đất.

Nhóm bánh chưng, đích thị là cộng đồng ở Bắc vào sau 1975. Nhóm bánh tét, hẳn Nam bộ thuần, tự tay làm và chia nhau chứ không màng bánh chợ hay chờ ở quê gửi lên. Vì sao? Vì cận Tết nhà phải có thứ bánh ấy, mà bánh chợ thì… ngoài thứ dây nylon ngại chết được, còn vì sẽ không vừa miệng, không mỹ mãn chất lượng, chắc chắn vậy rồi.

Có việc gì mà người ta thức suốt đêm với nhau? Ba viên gạch làm ông táo, mùi thanh ngo dầu thoang thoảng khi bắt lửa, đã nghe thấy ấm áp cõi lòng. Canh lửa, trở bánh và vớt bánh. Đánh bài ăn giả, đánh ghi-ta hát thật và càng khuya càng rì rầm chuyện xưa chuyện cũ, chuyện nhà mình, chuyện nhà người khác, chuyện họ mạc của nhau, chuyện thôn quê đang xa ngái, chuyện phố, chuyện phường. Con người thấy khoảng cách như thể biến mất, tình làng nghĩa xóm cho dù không ai gọi khu phố là làng xóm cả. 

Có sương rơi kìa, hóa ra có thức đêm ngoài trời mới biết đô thị cũng có sương, sương đọng trên lá và thành giọt. Ngày xưa, ông bà vẫn ra đồng trong thời tiết này, gấp rút những việc năm cùng tháng tận. Ngày chưa xa, phố nghèo, con cháu bồng bế về quê, cũng những viên gạch ông táo trên sân, cũng củi lửa bập bùng và cũng rưng rưng ký ức. Ký ức là thứ chi chi ở ngăn nào mà ai cũng có, trong não hay trong tim, hay trong huyết quản trong từng tế bào?

Không biết nữa, cây còn có ký ức, con voi, con hổ, con gì cũng có ký ức, huống chi con người. Ký ức là tài sản cá nhân nhưng lại bén rễ cộng đồng, khi đám đông ấy bên nhau, sẽ biết ngay ai người Hoa, ai người Khmer, ai người Việt. Có đúng không? Không hẳn, giá như đang phượt một mình với ba lô hoặc đang lạc vào hoang đảo thì cũng cứ là ký ức vực ta dậy, nuôi nấng tinh thần ta và cứ thế ta mạnh mẽ, vượt qua. 

Những miếng bánh đầu tiên gọi là thử (chưa dám ăn trọn vì chưa cúng bái). Nhóm nào đó la oai oái, bánh khét rồi, có mùi khét đây này. Nhóm bánh tét nấu nhanh hơn, tủm tỉm cười. Ai bảo cố, ham bánh chưng nặng cả ký, nấu tới sáng đi nghen. Bánh ăn liền, nóng nghẹn cổ nhưng mà không gì ngon hơn, không gì thay thế nổi.

Dân tộc này trường tồn hàng ngàn năm bên cạnh quốc gia khổng lồ, có lẽ là nhờ những chút khác như thế. Một chút khác, ngàn năm tích tụ thành sự khác cốt lõi. 

Bà chị ở Đà Lạt nhớ miền Tây bằng món bánh tét mà các em ở Sài Gòn chờ. Phải chuối xiêm chín thiệt mùi gởi từ Sài Gòn lên để có món bánh tét nhưn chuối. Khí hậu Đà Lạt và sương muối không thể trồng chuối xiêm, nếu gửi lên thứ chuối mới hườm hườm, gặp trời lạnh giá, chuối dừng ở đó, không ngọt nhưn bánh. Lá chuối cũng phải là chuối xiêm miền Tây hoặc Sài Gòn gửi lên, dây lạt cũng vậy. Có đủ mấy thứ đó thì thịt heo Đà Lạt ngon hơn, thơm hơn. Đậu xanh thì ở Bắc vào, khí hậu Bắc cho loại đậu nhỏ hạt và thơm ngon hơn.

Vậy là chị một mình một ngày gói bánh, đầu hôm nấu và cũng một mình, thức trắng đêm. Chị hình dung bàn thờ nhà các em, bánh của chị ở Đà Lạt làm đó, xinh xẻo, rất vừa ăn, căng cái tình, ấy là văn hóa sớt chia của gia tộc kéo dài nhiều thế hệ nay.

Muộn nhất ngày 29 Tết, mọi nhà, từ Bắc chí Nam, đã phải có cái thứ bánh ấy trên bàn thờ tổ tiên ông bà.

Ở Bắc lạnh, bánh chưng muôn đời, ra Giêng bánh vẫn thản nhiên ở đó, cho tới hạ nêu, cho tới rằm. Nếu nhà nhiều bánh, để ngăn đá tủ lạnh, khi thèm, lấy ra cho vào lò vi sóng, vẫn như mới.

Ở Nam, bánh tét chỉ để được năm hôm, khi đặt con gà luộc lên để cúng tiễn tổ tiên ông bà, cũng là lúc lấy bánh xuống, luộc hoặc hấp lại ăn, cũng có thể cho vào ngăn đá để dành ăn dần. An tâm, lòng thành, tha thiết bình an, ấy là cảm giác chung của mọi người, mọi nhà khi đã tươm tất bánh chưng, bánh tét bên cạnh hoa trái, nhang đèn.

Ai thiếu bàn thờ, ai không thể thực hành nghĩa cử ấy, đoan chắc họ sẽ ray rứt vô cùng và có thể sẽ bất an dai dẳng. Vì sao những người bất hạnh ấy lại dễ gặp bất hạnh tiếp tục vào năm sau? Đơn giản vì chính họ không bình tâm, chính họ thấy khiếm khuyết, thấy tội lỗi với gia tiên và việc ấy khiến họ dễ gặp bất trắc hơn.

Người Việt xa xứ mang theo không ít văn hóa Việt trong lối sống và đạo hiếu. Bàn thờ nếu có cũng không giống như bàn thờ các gia đình ở trong nước. Nhưng bánh chưng và bánh tét, gẫm ra, là thứ mà người Việt trọng hơn cả trong Tết Việt tha hương. Con trẻ ngọng tiếng Việt, con trẻ không tha thiết gì thứ bánh nếp ấy cho dù có chiên giòn lên để chúng bị dụ dỗ. Người già và cha mẹ chúng không chấp, họ chậm rãi mở bánh ra và hít hà. Sao không thấy thơm mùi lá chuối, lá dong như từng biết hồi ở trong nước? Họ băn khoăn, họ tiếc và họ cũng biết rõ vì sao.

Nước mắm ngày thường, bánh tét và bánh chưng ngày Tết, ấy là văn hóa. Dân tộc này trường tồn hàng ngàn năm bên cạnh quốc gia khổng lồ, có lẽ là nhờ những chút khác như thế. Một chút khác, ngàn năm tích tụ thành sự khác cốt lõi. Còn nhiều nét nữa trong thách thức giữa công nghiệp và toàn cầu hóa với thứ văn hóa nhau cuống thôn quê mà người Việt đang giằng co giữ gìn và chống đỡ. 

Nhìn từ thứ bánh vừa đơn cử, được chuẩn bị từ giữa năm, đến cận Tết, đến khi chúng lên bàn thờ, tôi tin, tôi đã phán đoán không ngoa: ấy là sự trường tồn, không dễ gì phai nhạt hay bị thay thế hoàn toàn. Chắc chắn. 

Dạ Ngân

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.