Cuốn sách “Kinh tế tư nhân Việt Nam – Động lực quan trọng nhất để dân giàu nước mạnh” (Đồng chủ biên: Trần Văn Thọ, Phạm Chi Lan, Vũ Kim Hạnh, Đậu Anh Tuấn; NXB Tri thức, 2026) là một công trình đã đi thẳng vào vấn đề cốt lõi. Từ "phòng thí nghiệm thực tiễn" TP.HCM nhìn vào hơn 700 trang sách, người ta không chỉ thấy số liệu, mà thấy một dòng chảy tư duy sống động đang định hình cho những quyết sách lớn của đất nước như Nghị quyết 68.
Điều làm nên sự khác biệt của cuốn sách không chỉ nằm ở quy mô hơn 700 trang hay số lượng 33 tác giả tham gia.
![]() |
| PGS-TS Phan Thanh Bình - nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM. |
Điều đáng chú ý hơn là sự đa dạng của các góc nhìn. Trong cùng một công trình, người đọc bắt gặp tiếng nói của các nhà kinh tế học, nhà hoạch định chính sách, doanh nhân, chuyên gia giáo dục, công nghệ, nông nghiệp và hội nhập quốc tế. Sự đa dạng ấy phản ánh một thực tế quan trọng: kinh tế tư nhân ngày nay không còn là câu chuyện riêng của doanh nghiệp. Nó liên quan đến chất lượng nguồn nhân lực, năng lực khoa học công nghệ, khả năng đổi mới sáng tạo, hiệu quả của thể chế và sức cạnh tranh quốc gia.
Ở góc độ đó, cuốn sách không chỉ bàn về một khu vực kinh tế. Nó góp phần mở ra một cuộc đối thoại rộng hơn về con đường phát triển của Việt Nam trong những thập niên tới.
Kinh tế tư nhân không chỉ là câu chuyện của doanh nghiệp
Đó là câu chuyện của nguồn nhân lực, của khoa học công nghệ, của giáo dục, của đổi mới sáng tạo, của năng lực hội nhập và cuối cùng là của năng lực phát triển quốc gia.
Trong hơn 700 trang, phần nhìn lại lịch sử nhận thức về kinh tế tư nhân chỉ chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn. Phần lớn dung lượng được dành cho những vấn đề của hiện tại và tương lai: thể chế phát triển, doanh nghiệp nhỏ và vừa, đổi mới sáng tạo, liên kết với FDI, giáo dục, nguồn nhân lực chất lượng cao, kinh nghiệm quốc tế và những câu chuyện doanh nhân Việt Nam.
Điều đó cho thấy một thực tế, câu chuyện của Việt Nam hôm nay không còn là kinh tế tư nhân có vai trò hay không. Câu hỏi lớn hơn là làm thế nào để khu vực này thực sự trở thành động lực phát triển đất nước. Đó cũng là tinh thần xuyên suốt của cuốn sách.

Hình ảnh cảng Cát Lái (TP.HCM). Ảnh: Báo Đầu tư
Nhận thức là một quá trình, nhưng không phải miễn phí
Nhìn lại nửa thế kỷ qua, có thể thấy vai trò của kinh tế tư nhân trong tư duy phát triển của Việt Nam đã trải qua nhiều thay đổi.
Từ những năm đầu sau thống nhất với mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đến Đổi mới năm 1986, Luật Doanh nghiệp năm 1999, Nghị quyết 10 năm 2017 và Nghị quyết 68 hôm nay, cách nhìn về kinh tế tư nhân từng bước được điều chỉnh bởi chính thực tiễn phát triển.
Điều đáng suy ngẫm không phải là sự thay đổi của các văn bản chính sách, mà là cái giá của quá trình nhận thức ấy.
Các chiến dịch cải tạo công thương nghiệp sau năm 1975 được triển khai trong một bối cảnh lịch sử cụ thể và với những mục tiêu của thời kỳ đó. Nhưng nhìn từ góc độ phát triển kinh tế, điều còn lại không chỉ là sự thay đổi về sở hữu. Một phần năng lực kinh doanh của xã hội đã bị gián đoạn. Đó là đội ngũ doanh nhân, là mạng lưới thương mại, là kinh nghiệm quản trị, là văn hóa kinh doanh đô thị đã hình thành qua nhiều thế hệ.
Cái mất đi không chỉ là tài sản hay cơ sở sản xuất; Khó phục hồi hơn là niềm tin vào hoạt động kinh doanh như một giá trị xã hội. Những hệ quả ấy không dễ đo bằng số liệu thống kê, nhưng dấu vết của chúng có thể nhận ra trong những năm trì trệ kéo dài trước đổi mới và cả trong quá trình tái tạo đội ngũ doanh nhân sau này. Chính vì vậy, giá trị lớn nhất của đổi mới không chỉ là thay đổi cơ chế kinh tế. Đó là sự điều chỉnh trong nhận thức về nguồn lực phát triển.
Một nền kinh tế có thể huy động vốn, nhập khẩu công nghệ hay tiếp nhận kinh nghiệm quốc tế, nhưng sẽ khó phát triển bền vững nếu không giải phóng được năng lực sáng tạo của người dân và doanh nghiệp.
Ở góc độ đó, hành trình của kinh tế tư nhân cũng chính là hành trình tìm kiếm và giải phóng động lực phát triển.
Nếu nhìn trên dòng thời gian chính sách, có thể thấy Nghị quyết 68 không xuất hiện từ khoảng trống. Từ chỗ kinh tế tư nhân được nhìn nhận như một thành phần cần quản lý, đến xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế, và hôm nay là động lực quan trọng nhất cho tăng trưởng trong giai đoạn mới, đó là một quá trình điều chỉnh nhận thức kéo dài nhiều thập niên.
Sự thay đổi trong cách diễn đạt tưởng như chỉ là vài từ ngữ. Nhưng phía sau là sự thay đổi trong cách nhìn về nguồn lực phát triển của đất nước. Đó cũng là điều mà cuốn sách, bằng nhiều góc tiếp cận khác nhau, đã góp phần lý giải.
![]() |
| Bìa cuốn sách Kinh tế tư nhân Việt Nam – Động lực quan trọng nhất để dân giàu nước mạnh. |
TP.HCM - "phòng thí nghiệm" của kinh tế tư nhân
Nếu có nơi nào phản ánh rõ nhất hành trình đó, có lẽ là TP.HCM.
Không phải ngẫu nhiên mà nhiều điều chỉnh quan trọng trong tư duy kinh tế của Việt Nam đều ít nhiều được gợi mở từ thực tiễn phía Nam, Không chỉ vì đây là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, mà vì đây là nơi nhiều lần cho thấy thực tiễn phát triển thường vận động nhanh hơn nhận thức. Từ hoạt động thương mại, sản xuất và dịch vụ của đô thị Sài Gòn trước đây, đến những tìm tòi trong lưu thông hàng hóa thời kỳ đầu đổi mới; từ sự phát triển mạnh mẽ của doanh nghiệp dân doanh sau Luật Doanh nghiệp đến phong trào Hàng Việt Nam Chất lượng cao; từ những doanh nghiệp gia đình đến các doanh nghiệp công nghệ và đổi mới sáng tạo hôm nay.
TP.HCM từ lâu đã là phòng thí nghiệm lớn nhất của kinh tế tư nhân Việt Nam.
Nhìn từ thành phố này, những thành tựu, giới hạn và cả những nghịch lý mà các tác giả đề cập trong cuốn sách hiện lên gần như đầy đủ. Nhưng cũng chính từ "áp lực đầu tàu" của đô thị này, một nghịch lý phát triển lộ rõ: chúng ta đã thành công trong việc tạo ra một cộng đồng doanh nghiệp đông đảo, song vẫn thiếu những doanh nghiệp đủ tầm vóc để dẫn dắt hệ sinh thái sản xuất, đổi mới sáng tạo và cạnh tranh toàn cầu.
Bài toán đặt ra cho TP.HCM hiện tại, và cũng là trăn trở xuyên suốt của các tác giả, không còn là làm sao để có thêm doanh nghiệp, mà là làm sao nuôi dưỡng được những doanh nghiệp mạnh. Bước chuyển từ số lượng sang chất lượng.
Một trong những điểm đáng quý của cuốn sách là không dừng lại ở việc ghi nhận những thành tựu của khu vực kinh tế tư nhân. Các tác giả cũng thẳng thắn chỉ ra những giới hạn còn tồn tại. Khu vực ngoài nhà nước hiện đóng góp khoảng một nửa GDP và sử dụng phần lớn lực lượng lao động của nền kinh tế. Nhưng gần 97% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa; tỷ lệ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu chỉ khoảng 18%. Liên kết với khu vực FDI chưa tương xứng với tiềm năng; Đầu tư cho nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo còn khiêm tốn.
Điều đó dẫn đến một nghịch lý: Việt Nam đã thành công trong việc tạo ra một cộng đồng doanh nghiệp đông đảo; Nhưng vẫn đang trong quá trình xây dựng một cộng đồng doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh toàn cầu. Khoảng cách giữa hai điều đó chính là khoảng cách giữa tăng trưởng và phát triển.
Không quốc gia nào giàu mạnh với doanh nghiệp nội địa yếu
Một điểm thú vị của cuốn sách là đặt câu chuyện kinh tế tư nhân Việt Nam trong tương quan với nhiều kinh nghiệm phát triển khác nhau trên thế giới. Các tác giả không đi tìm một mô hình mẫu để sao chép. Bởi mỗi quốc gia có điều kiện lịch sử, thể chế và nguồn lực riêng. Nhưng phía sau những khác biệt ấy là một điểm chung đáng chú ý. Không quốc gia nào trở nên giàu mạnh với một khu vực doanh nghiệp nội địa yếu. Có nước phát triển dựa vào những tập đoàn công nghiệp lớn. Có nước nổi bật với mạng lưới doanh nghiệp vừa và nhỏ có trình độ công nghệ cao. Có nước thành công nhờ phát huy mạnh mẽ tinh thần doanh nhân và đổi mới sáng tạo. Con đường có thể khác nhau; Nhưng đích đến đều gặp nhau ở năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Điểm chung không nằm ở mô hình, mà nằm ở khả năng giải phóng và phát huy năng lực doanh nhân.
Đó cũng là điều cuốn sách nhiều lần nhấn mạnh: Ngoại lực rất quan trọng, nhưng cuối cùng vẫn phải chuyển hóa thành nội lực.

Dây chuyền hàn hoàn thiện thân xe Kia New Carnival tại nhà máy thuộc Trung tâm sản xuất của THACO Auto tại Chu Lai.
Những câu chuyện thuyết phục nhất
Nếu các phần đầu của cuốn sách bàn về chính sách, thể chế và kinh nghiệm phát triển, thì Phần V lại kể những câu chuyện. Nhưng chính những câu chuyện ấy mới là phần thuyết phục nhất.
Từ Minh Long, Trung Nguyên, ABC Bakery đến những doanh nghiệp công nghệ, nông nghiệp công nghệ cao, logistics hay những doanh nghiệp trưởng thành từ phong trào Hàng Việt Nam Chất lượng cao.
Mỗi câu chuyện một lĩnh vực. Mỗi doanh nghiệp một hành trình.Nhưng tất cả đều cho thấy một điều: Doanh nghiệp Việt Nam không thiếu khát vọng, không thiếu năng lực thích ứng, không thiếu khả năng sáng tạo. Điều họ cần là một môi trường thể chế ổn định, minh bạch và khuyến khích cạnh tranh lành mạnh.
Nếu các phần trước trả lời câu hỏi cần làm gì, thì Phần V trả lời câu hỏi điều đó có khả thi hay không. Câu trả lời nằm ngay trong những doanh nghiệp được kể trong sách.
Nghị quyết 68 và bài toán thực thi
Đọc hơn 700 trang sách, điều đọng lại không phải là một kết luận về kinh tế tư nhân. Vấn đề đặt ra lại là câu hỏi về tương lai phát triển của Việt Nam.
Nhìn lại hành trình hơn nửa thế kỷ, có thể thấy nhận thức về kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã thay đổi rất sâu sắc. Nhưng có lẽ điều quan trọng hơn không nằm ở sự thay đổi của nhận thức; mà nằm ở sự thay đổi trong cách nhìn về nguồn lực phát triển của đất nước. Từ chỗ chủ yếu trông đợi vào vốn, tài nguyên hay các quyết định hành chính, tư duy phát triển ngày càng hướng tới việc giải phóng năng lực sáng tạo của con người, của doanh nghiệp và của toàn xã hội. Kinh tế tư nhân vì thế không chỉ là một khu vực kinh tế. Nó là thước đo cho khả năng huy động và phát huy nguồn lực xã hội của một quốc gia.
Sau gần nửa thế kỷ điều chỉnh nhận thức và gần bốn thập niên đổi mới, câu hỏi không còn là kinh tế tư nhân có vai trò gì. Giờ đây vấn đề là liệu chúng ta có đủ quyết tâm để biến khu vực này thành nền tảng của năng suất, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia hay không? Nghị quyết 68 là một cột mốc quan trọng trên hành trình đó. Nhưng như lịch sử phát triển đã nhiều lần cho thấy, khoảng cách từ một chủ trương đúng đến một kết quả phát triển thực sự luôn được đo bằng chất lượng thực thi.
Nhận thức có thể thay đổi qua thời gian. Nhưng năng lực phát triển chỉ được tạo ra bằng hành động.
Có lẽ đó mới là thông điệp sâu xa nhất mà hơn 700 trang sách và 33 tác giả muốn gửi tới người đọc.
Phan Thanh Bình