Từ giá trị kiến trúc, lịch sử và văn hóa của các công trình đến vai trò của những thiết chế này trong đời sống đô thị và công nghiệp văn hóa, vị chuyên gia đặt vấn đề về cách thức đánh giá, lựa chọn và sử dụng nguồn lực công. Qua đó, bài viết kiến nghị cần rà soát căn bản các phương án can thiệp, ưu tiên bảo tồn, cải tạo và thích ứng trước khi xem xét việc phá bỏ.
* * *
Một trong những nội dung đáng chú ý trong Hồ sơ Điều chỉnh Quy hoạch khu vực hồ Hoàn Kiếm và phụ cận là đề xuất “hạ giải” một loạt công trình hiện hữu để dành chỗ cho các công trình mới. “Hạ giải” là cách diễn đạt của Hồ sơ đồ án, tuy nhiên theo tôi sử dụng từ “phá bỏ” có lẽ mới phản ánh đúng bản chất của những dự định can thiệp này.
Cụ thể, đồ án đang đề xuất:
Và phá bỏ một số khu vực dân cư và công trình hiện hữu khác.
Đây là những can thiệp ở quy mô rất lớn đối với một khu vực có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, kiến trúc và ký ức đô thị. Vì vậy, những đề xuất phá bỏ này cần được xem xét, cân nhắc và giải trình kỹ lưỡng trên nhiều khía cạnh; không thể mặc nhiên coi việc đập đi các công trình hiện hữu là một bước đi tất yếu để thực hiện “phát triển”.

Không gian Hồ Gươm là một chỉnh thể đô thị, nơi cảnh quan, kiến trúc, lịch sử và đời sống công cộng cùng tạo nên giá trị của một “nơi chốn” đặc biệt của Hà Nội. Ảnh: Explore Vietnam
Không thể xem những công trình bị đề xuất hạ giải chỉ là “nhà cũ”
Điều đầu tiên cần khẳng định là những công trình đang được đặt lên bàn cân để "hạ giải" không phải là những công trình vô danh, không có tác giả, không có lịch sử và không có giá trị.
Cung Thiếu nhi Hà Nội – một "di sản kiến trúc hiện đại" Việt Nam đã được giới chuyên môn trong nước và quốc tế xác nhận:
Cung Thiếu nhi Hà Nội do KTS Lê Văn Lân thiết kế năm 1974, hoàn thành năm 1977 khi đất nước đang trong thời chiến. Trong chính hoàn cảnh khó khăn ấy đã ra đời một công trình kiến trúc tiên tiến, đánh dấu sự trưởng thành của Kiến trúc hiện đại Việt Nam, đồng thời khẳng định tài năng của kiến trúc sư người Việt Nam.
Giá trị của Cung Thiếu nhi đã được giới chuyên môn trong nước và quốc tế ghi nhận từ nhiều năm qua. Năm 2015, Cung được lựa chọn trong 10 công trình kiến trúc hiện đại tiêu biểu của Việt Nam thuộc chương trình nghiên cứu Kiến trúc Hiện đại Đông Nam Á (mASEANa); Công trình từng lọt vào danh sách đề cử năm 2016 cho Top 10 World’s Heritages of Modern Architecture do Quỹ Getty khởi xướng và tài trợ.
Năm 2017, DOCOMOMO International đã giới thiệu công trình và nhận định đây là “one of the most valuable buildings in those years” (một trong những công trình có giá trị nhất của giai đoạn sau thống nhất đất nước tại Việt Nam). Năm 2021, Hội Kiến trúc sư Việt Nam đã có văn bản kiến nghị Thành phố bảo tồn Cung Thiếu nhi và Rạp Khăn Quàng Đỏ, khẳng định giá trị kiến trúc, giá trị văn hóa công cộng, với ngôn ngữ kiến trúc hiện đại, độc đáo và vai trò của công trình trong tổ chức không gian khu vực Hồ Gươm.

Cung thiếu nhi khi mới hoàn thành (1978-1980). Ảnh: TL

Cung Thiếu nhi Hà Nội và Rạp Khăn Quàng Đỏ là những công trình được tác giả bài viết đề nghị giữ lại, bảo tồn, bảo dưỡng và cải tạo, thay vì “hạ giải” để xây dựng mới. Ảnh: Tạp chí Kiến trúc
Những ngày qua, trước thông tin về khả năng cụm công trình bị phá bỏ, nhiều học giả và chuyên gia uy tín quốc tế đã lên tiếng mạnh mẽ, đồng thời gửi thư đến lãnh đạo thành phố Hà Nội đề nghị bảo tồn và tôn tạo công trình. Giáo sư Johannes Widodo, Đại học Quốc gia Singapore, Chủ tịch DOCOMOMO Singapore, cho rằng “giá trị của Cung Thiếu nhi đã được nhận diện trong các nghiên cứu quốc tế về kiến trúc hiện đại, … điều này đặt công trình trong một mạng lưới di sản rộng hơn phạm vi Hà Nội”.
Ông cũng cảnh báo “Phá dỡ nó sẽ không đơn thuần chỉ là xóa bỏ ký ức của người dân Thủ đô, nó sẽ xóa đi một chương trong lịch sử kiến trúc Đông Nam Á”. Giáo sư Kilhun Lee, Đại học Seoul Hàn Quốc, Giáo sư Rémi Wang, chủ tịch DoCoMoMo Đài Loan cũng đã gửi thư đề nghị Thành phố giữ lại và bảo tồn cụm công trình này.
Rõ ràng, câu hỏi ở đây không còn là Cung Thiếu nhi và Rạp Khăn Quàng Đỏ có giá trị hay không? Giới chuyên môn trong nước và quốc tế đã phân tích rất rõ và khẳng định về điều đó. Câu hỏi thực sự là: Hà Nội – một Thủ đô văn hiến – cần ứng xử thế nào với một công trình đã được nhận diện, ghi nhận và yêu mến như vậy?

Trụ sở HĐND - UBND Thành phố được xây dựng trong giai đoạn 1985–1987, gắn với một thời điểm chuyển mình của kiến trúc công cộng Hà Nội từ thời kỳ bao cấp sang Đổi mới. Ảnh: Dân Trí
Trụ sở HĐND–UBND Thành phố là một dấu mốc kiến trúc của Hà Nội thời kỳ đầu Đổi mới:
Nếu Cung Thiếu nhi là một đại diện tiêu biểu của kiến trúc hiện đại Việt Nam sau thống nhất đất nước, thì trụ sở HĐND–UBND Thành phố lại ghi dấu một thời điểm chuyển mình của Hà Nội từ thời kỳ bao cấp sang Đổi mới.
Được thiết kế và xây dựng trong giai đoạn 1985–1987, công trình là kết quả của một cuộc thi thiết kế quan trọng nhằm tìm kiếm một diện mạo mới cho kiến trúc công cộng Thủ đô. Công trình do KTS Nguyễn Tiến Thuận cùng các KTS Tạ Thường Xuân, Bùi Quý Ngọc và Trần Xuân Đỉnh thiết kế.
KTS Nguyễn Tiến Thuận cũng là một tên tuổi lớn, có nhiều đóng góp quan trọng cho nền kiến trúc Việt Nam. Ông đã được phong tặng Nhà giáo Ưu tú, được trao Huân chương Lao động hạng Nhì, Huân chương Lao động hạng Ba, hai Giải thưởng Kiến trúc Quốc gia và Giải thưởng Nhà nước về Văn học, Nghệ thuật.
Những thông tin đó đủ để khẳng định đây không phải một “tòa nhà cũ” vô danh. Đây là một công trình của tác giả với tên tuổi nổi bật, có ý tưởng, có lịch sử hình thành và gắn với một thời điểm quan trọng của kiến trúc Hà Nội.
Nghịch lý ở đây là những công trình kiến trúc có giá trị, đã được giới chuyên môn và nhiều tổ chức, chuyên gia ghi nhận từ nhiều năm qua, lại bị chính Đồ án điều chỉnh quy hoạch do cơ quan nhà nước lập đưa vào phương án phải "hạ giải". Trong khi đó, việc nhận diện, bảo vệ và phát huy các giá trị kiến trúc – văn hóa hiện hữu trước hết phải là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước.
Các công trình thuộc nhóm bị phá bỏ khác trong Đồ án như tòa nhà Bưu điện Hà Nội, Rạp Công Nhân, hay tòa nhà theo phong cách Pháp của Bảo tàng Cách mạng cũ, chắc chắn mỗi công trình đều có giá trị và câu chuyện riêng, là các công trình công hữu, đều phải được nghiên cứu, đánh giá thận trọng trước khi đưa ra đề xuất can thiệp.


Bưu điện Hà Nội trên phố Đinh Tiên Hoàng (ảnh trên), một trong những công trình hiện hữu được đề xuất phá bỏ để nghiên cứu xây dựng công trình tái hiện chùa Báo Ân (ảnh dưới) theo đồ án. Ảnh: Sài Gòn Giải Phóng
Phá bỏ thiết chế văn hóa, có ngược với mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa?
Một nghịch lý khác đang xuất hiện trong cách tiếp cận đối với khu vực Hồ Gươm. Trong khi Hà Nội xác định công nghiệp văn hóa (CNVH) là một ngành kinh tế mũi nhọn, coi “văn hóa và con người là nguồn lực nội sinh cho phát triển”, thì tại chính khu vực Hồ Gươm, nơi được định hướng là “Không gian Lịch sử – Văn hóa – Nghệ thuật của Thủ đô”, lại đang nghiên cứu xóa bỏ những công trình kiến trúc có giá trị và từ lâu đã trở thành một phần quan trọng của đời sống văn hóa đô thị.
Nghị quyết 09–NQ/TU ngày 22.2.2022 của Thành ủy Hà Nội về phát triển CNVH đã khẳng định một trong tám nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa. Nghị quyết nhấn mạnh việc tạo môi trường nuôi dưỡng văn hóa sáng tạo, phát triển hệ sinh thái giáo dục sáng tạo trong cộng đồng và nhà trường, hướng tới hình thành những thế hệ công dân sáng tạo.
Điều đó cho thấy CNVH không bắt đầu từ những sản phẩm được đưa ra thị trường. Nó bắt đầu từ quá trình nuôi dưỡng con người có khả năng sáng tạo, phát hiện, ươm mầm và đào tạo các tài năng nghệ thuật. Muốn có nghệ sĩ, nhà thiết kế, kiến trúc sư, nhà nghiên cứu và những thế hệ lao động sáng tạo trong tương lai, trước hết phải có những môi trường để trẻ em được tiếp xúc với nghệ thuật, học tập, thực hành và phát triển năng khiếu.
Cung Thiếu nhi Hà Nội chính là một thiết chế như vậy, vận hành một cách bền bỉ và thực chất trong gần nửa thế kỷ qua. Theo số liệu của Báo điện tử Chính phủ, hàng năm Cung Thiếu nhi đón nhận và phục vụ khoảng 30.000 thiếu nhi học tập, sinh hoạt, cùng hàng trăm nghìn lượt thiếu nhi đến vui chơi. Đây không chỉ là số lượng người sử dụng một công trình. Đó là một quá trình dài mà thiết chế văn hóa này đã tham gia vào việc hình thành năng lực sáng tạo và đời sống tinh thần của nhiều thế hệ trẻ em Hà Nội; rất nhiều ca sĩ, văn nghệ sĩ hàng đầu của Việt Nam đã khởi đầu hành trình nghệ thuật của mình từ đây.
Mặc dù Thành phố Hà Nội đã xây dựng và đưa vào vận hành từ tháng 9.2024 một Cung Thiếu nhi mới tại khu vực Công viên hồ điều hòa khu đô thị mới Cầu Giấy, cách trung tâm Hà Nội tầm 10km. Tuy nhiên, Cung mới ra đời không thể là lý do để xóa bỏ Cung Thiếu nhi cũ. Tại sao? Thứ nhất, quy mô dân số Hà Nội đã tăng lên hơn ba lần, từ khoảng 2,57 triệu người năm 1979 (khi Cung Thiếu nhi cũ mới khánh thành) lên khoảng 8,86 triệu người năm 2025. Nguyên con số này cũng đã chứng tỏ sự cần thiết một thiết chế văn hóa hoàn toàn mới phục vụ phần mở rộng phía Tây Hà Nội.
Thứ hai, thiết chế văn hóa dành cho thiếu nhi cần được phân bổ tại nhiều điểm để giảm khoảng cách di chuyển; nên một đô thị gần 9 triệu dân như Hà Nội đương nhiên cần nhiều hơn một cung văn hóa. Như vậy, Cung mới phải được nhìn nhận là bổ sung – chứ không phải thay thế Cung cũ đã và đang phục vụ hiệu quả khu vực nội thành Hà Nội.
Giữ lại một thiết chế đã trực tiếp nuôi dưỡng nhiều thế hệ trẻ em tiếp cận nghệ thuật và sáng tạo – tại đúng vị trí trung tâm thành phố – không phải là níu giữ quá khứ. Đó là bảo vệ một phần hạ tầng cho sự phát triển của tương lai.
Nghịch lý thứ hai, trong khi đặt mục tiêu phát huy các giá trị văn hóa – lịch sử và xác định CNVH là một trong những động lực kinh tế của Hà Nội, Đồ án lại đề xuất loại bỏ một số thiết chế văn hóa hiện hữu – những “chiếc nôi nghệ thuật” đã phát hiện, nuôi dưỡng và hình thành năng lực sáng tạo cho nhiều thế hệ người Hà Nội.
Ở khía cạnh này, đề xuất phá bỏ Rạp Công nhân, tòa nhà Triển lãm Mỹ thuật, hay Bảo tàng Cách mạng trong Đồ án cũng có cùng hệ quả: đó là xóa bỏ các thiết chế văn hóa hiện hữu đã và đang phục vụ đời sống văn hóa xã hội thành phố.


Bảo tàng Cách mạng là một trong những thiết chế văn hóa hiện hữu được đề cập trong các đề xuất can thiệp tại khu vực Hồ Gươm và phụ cận. Ảnh: Người Hà Nội/UBND TP. Hà Nội
Phá bỏ một tài sản công và câu hỏi về hiệu quả sử dụng, quản lý nguồn lực công
Phá bỏ một công trình công cộng đang tồn tại và xây dựng một công trình mới không chỉ là một quyết định về kiến trúc hay tổ chức không gian. Đó là một quyết định sử dụng tài sản và nguồn lực công, và vì vậy phải được đặt trong bài toán tổng thể về hiệu quả sử dụng nguồn vốn và thứ tự ưu tiên của Thành phố.
Mỗi quyết định phá bỏ đều kéo theo hàng loạt chi phí: từ giải phóng mặt bằng, tháo dỡ, xử lý phế thải xây dựng, đến thiết kế, xây dựng lại, đầu tư trang thiết bị và vận hành công trình mới. Những nguồn lực đó chỉ có thể được xem là hợp lý khi phương án tái sử dụng công trình hiện hữu không đảm bảo an toàn và hiệu quả, hay việc xây mới thực sự cần thiết và tạo ra lợi ích công cộng tương xứng.
Hà Nội đang đặt ra những tầm nhìn quy hoạch dài hạn lên đến 100 năm. Nhưng Quy hoạch tốt không bao giờ chỉ là sự tưởng tượng và mô tả bằng lời một đô thị sau 100 năm sẽ có diện mạo như thế nào khi bối cảnh trong nước, quốc tế, vi mô, vĩ mô đến biến động không ngừng; quy hoạch tốt cần trả lời được những yêu cầu căn bản nhất của một đô thị đang tồn tại hôm nay mà không hạn chế những cơ hội của tương lai.
Những trận mưa lớn và tình trạng ngập úng trong mùa mưa, cùng sự việc một sinh viên Trường Đại học Mỏ – Địa chất tử vong trong sự cố liên quan đến hệ thống thoát nước khi mưa lớn những ngày qua, là một lời nhắc nhở đau xót tới các cấp chính quyền và toàn xã hội rằng một đô thị trước khi nói đến “hiện đại” thì phải là một đô thị an toàn.
Trong bối cảnh đó, xây dựng Khải Hoàn Môn, phá bỏ trụ sở HĐND–UBND hiện hữu và Cung Thiếu nhi để xây dựng một trụ sở mới đồ sộ, phá bỏ Nhà Bưu điện để xây một chùa Báo Ân mới, hay tiếp tục xây thêm khách sạn, theo cách nói dân gian, là những điều “phù phiếm”; không phải, hay chính xác hơn, chưa phải là những gì Hà Nội thực sự cần lúc này.
Nghịch lý nằm ở chính thứ tự ưu tiên đầu tư công: những công trình mới chưa cho thấy tính cấp thiết lại được đặt vào một vị trí nổi bật trong viễn cảnh phát triển đô thị, trong khi yêu cầu căn bản và tối thiểu như bảo đảm an toàn và tính mạng người dân trong đô thị vẫn còn đó những khoảng trống rất đáng lo ngại.
Vì vậy, tầm nhìn 100 năm không thể trở thành lý do để lờ đi những gì người dân thực sự cần. Một thành phố hiện đại không thể được đo bằng số lượng công trình mới được vẽ trên bản quy hoạch, nếu ngay cả sự an toàn sinh mạng và sức khỏe của người dân trong thành phố vẫn chưa được bảo đảm.
Lời kết
Những đề xuất “hạ giải” tại khu vực Hồ Gươm đang đặt ra nhiều vấn đề vượt xa câu chuyện thay một công trình cũ bằng một công trình mới. Đó là cách Hà Nội ứng xử với những giá trị kiến trúc và ký ức đô thị đã được hình thành; là sự nhất quán hay bất cập giữa quy hoạch với chính sách phát triển kinh tế – xã hội, cụ thể là phát triển CNVH; và là trách nhiệm Nhà nước trong sử dụng, quản lý tài sản, nguồn lực công phục vụ nhân dân.
Phát triển không đồng nghĩa với phá bỏ cái cũ. Hiện đại hóa không đồng nghĩa với phủ nhận lịch sử. Tầm nhìn dài hạn không thay thế các vấn đề cấp bách trước mắt. Một đô thị trưởng thành không phải là đô thị luôn tìm cách xây mới, mà là đô thị biết nhận diện giá trị, giữ lại những gì đáng giữ, cải tạo những gì có thể cải tạo, thích ứng những gì có thể thích ứng và chỉ phá bỏ khi thực sự không còn một giải pháp hợp lý khác.
Đối với Đồ án điều chỉnh quy hoạch khu vực Hồ Gươm và Phụ cận đang lấy ý kiến, tác giả kiến nghị:
(Một số kiến nghị khác đã được nêu trong các bài Không gian Hồ Gươm – bản sắc của một ‘nơi chốn’ không thể thay thế và Chỉnh trang Hồ Gươm: Không thể đặt quy hoạch ngoài khung pháp lý bảo vệ di sản)
PGS-TS-KTS. Phạm Thúy Loan (Nguyên Phó Viện trưởng Viện Kiến trúc Quốc gia; Chuyên viên Quy hoạch Chiến lược, TP. Campbelltown, Úc)