Làm gì để có “học thật, thi thật, nhân tài thật”?

 11:40 | Thứ hai, 31/05/2021  0
Trong bối cảnh dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp, những vấn đề của giáo dục vẫn nhận được sự quan tâm đáng kể của dư luận khi trong buổi làm việc với Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 6.5, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh ngành giáo dục phải “học thật, thi thật, nhân tài thật”.

Dư luận quan tâm bởi vì câu nói của Thủ tướng Chính phủ đã đề cập đến một vấn đề lớn của giáo dục đã tồn tại trong nhiều thập kỷ qua là căn bệnh giả dối mà người ta thường goi nhẹ đi là “bệnh thành tích”. Vậy làm thế nào để có “học thật, thi thật, nhân tài thật”? Muốn giải đáp câu hỏi này, ta phải lần ngược lại để suy ngẫm xem tại sao giáo viên, nhà trường, cán bộ quản lý giáo dục, phụ huynh và rồi đến cả học sinh đều phải gian dối? Từ đó mới có những biện pháp cơ bản để tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho cái thật, cái tốt nảy nở sinh sôi và ngăn chặn cái giả dối. Theo tôi, để có giáo dục thật cần phải làm mấy việc cơ bản sau.

Đảm bảo môi trường dân chủ - tự do học thuật

Nghĩ thật nhưng nói dối, làm dối sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng cho cả cá nhân và xã hội. Trong giáo dục, việc làm này lâu dần sẽ phá hủy nhân cách của cả người dạy và người học. Giáo dục sẽ thực sự mất đi sức mạnh của nó nếu người thầy không dám hoặc không được nói ra ý nghĩ, tư tưởng thật trong lòng mình. Giáo viên sẽ mất đi động lực sáng tạo và làm việc như một cái máy để tồn tại. Học trò cũng sẽ mất đi lòng kính trọng đối với giáo viên khi phát hiện ra thái độ, lời nói, hành vi của giáo viên là giả dối.

Đối với học sinh, những người có tâm hồn còn phơi phới, đang tin tưởng vào tương lai và khao khát hướng thiện, việc nhìn thấy hai con người với hai nhân cách khác nhau ở giáo viên sẽ làm cho các em sụp đổ niềm tin vào người lớn và phản ứng tiêu cực với xã hội, cuộc sống.

Nhà trường tự bao giờ không còn là thánh đường của tuổi thơ. Ngày 29.4, tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên  huyện Lục Ngạn - Bắc Giang xảy ra sự việc giáo viên có hành vi bạo lực với nhóm 4 học sinh ngay trên bục giảng. Ảnh: TL


Trong những năm vừa qua, xã hội đã chứng kiến rất nhiều người thầy điêu đứng, khổ sở thậm chí bị mất việc vì dám nói ra sự thật, đặc biệt là dám đụng chạm đến những tiêu cực trong ngành, tiêu cực ở ngôi trường nơi mình đang giảng dạy. Một số giáo viên khác lại bị “lên bờ xuống ruộng” vì thanh tra, kiểm tra hồ sơ, sổ sách và những cải tiến mở rộng biên độ sách giáo khoa.

Áp lực của cơ quan hành chính giáo dục đặt lên vai giáo viên rất lớn, sự can thiệp cả vào chuyên môn của phòng, sở Giáo dục - Đào tạo thông qua các chuyên viên cũng rất mạnh mẽ và trực tiếp. Điều đó khiến cho giáo viên thu mình lại và giảng dạy theo phương châm lấy sự “tồn tại” làm tiêu chuẩn duy nhất thay vì “sáng tạo”.

Để người thầy dám nghĩ thật, nói thật, dạy thật và trên hết là sống thật với con người mình, với nghề của mình, họ phải được làm việc trong môi trường dân chủ và được đảm bảo về “tự do học thuật”. Thầy cô phải được yên tâm khi trình bày những suy nghĩ, ý kiến, ý tưởng của mình thay vì sợ bị cấp trên nhắc nhở, phê bình, kỷ luật. Môi trường trường học phải khuyến khích được sự can đảm trong sáng tạo thay vì bóp nghẹt nó.

Để người thầy dám nghĩ thật, nói thật, dạy thật và trên hết là sống thật với con người mình, với nghề của mình, họ phải được làm việc trong môi trường dân chủ và được đảm bảo về “tự do học thuật”.

Ở một phương diện khác ta cũng thấy học sinh cũng không dám nói thật dù có khi nghĩ thật vì đến lượt mình, giáo viên lại là người áp chế học sinh. Dễ thấy nhất là nạn “văn mẫu”. Ngay từ lớp Một, học sinh đã bị gò ép phải viết theo ý cô, phải tìm ra “đáp án duy nhất đúng” trong nhiều môn học không chỉ là môn Toán. Tiêu chuẩn đánh giá “văn đúng” thay vì “văn hay” đã dần dần giết chết môn Văn trong nhà trường. Suy rộng ra đây chính là căn bệnh “độc quyền chân lý” hay “đồng phục tư duy” trong giáo dục. Lâu dần, lối giáo dục này khiến cho học sinh mất đi động lực học tập và không hiểu được “học để làm gì”. 

Muốn học sinh học thật thì trước hết học sinh phải được thầy cô, nhà trường cho nói thật, viết thật, sống thật với con người mình. Thầy cô phải biết chấp nhận cả những gì chưa hoàn hảo, non nớt thậm chí cả những gì còn “lệch lạc” của học sinh từ đó mà giúp đỡ, hướng dẫn học sinh tiến bộ, trưởng thành. Đó mới là thực thi sứ mệnh của giáo dục.

Cải tiến phương thức kiểm tra đánh giá

Một nhân tố tác động trực tiếp tới giáo viên và học sinh làm cho bệnh giả dối ngày càng trở nên trầm trọng là phương thức kiểm tra, đánh giá giáo viên và học sinh bất hợp lý. Xét về phương diện quản lý, việc đánh giá thành tích, sự tiến bộ của đơn vị được quản lý dựa trên các tiêu chí định lượng biểu thị bằng các con số là việc rất tiện lợi và dễ rút ra kết luận. Địa phương nào, trường nào, ở tiêu chí này đạt được con số bao nhiêu, hoàn thành được bao nhiêu phần trăm… Chỉ cần nhìn vào đó người quản lý, cơ quan quản lý sẽ dễ dàng xếp đặt trật tự và phân loại được thứ hạng. Trên cơ sở ấy mà dễ dàng thăng thưởng, đề bạt, kỷ luật.

Giáo viên cũng vậy, khi dựa vào điểm số và xếp hạng hạnh kiểm của học sinh, giáo viên dễ dàng phân loại và đánh giá học sinh. Tuy nhiên, giáo dục là lĩnh vực tạo ra con người - một sinh vật vô cùng phức tạp, ở đó hành vi, thái độ, những biểu hiện cụ thể trong rất nhiều trường hợp lại không thể hiện được đúng bản chất bên trong. Hơn nữa, giáo dục cũng là một “quy trình sản xuất” mà ngay cả khi “xuất xưởng sản phẩm” người sản xuất (giáo viên) vẫn chưa thể đánh giá đúng hoàn toàn hoặc toàn diện chất lượng của sản phẩm.

Có thầy cô nào dám tự tin khẳng định rằng đánh giá của mình về một học sinh nào đó ở thời điểm tốt nghiệp trung học phổ thông là đúng đắn tuyệt đối? Có bao nhiêu học sinh được đánh giá là “học giỏi, hạnh kiểm tốt” nhưng sau đó đã trở thành tội phạm tham nhũng, buôn lậu? Ngược lại có bao nhiêu học sinh cho dù học không giỏi, thậm chí hạnh kiểm không tốt nhưng rồi sau này trong cuộc đời lại trở thành người tốt, có cống hiến lớn cho xã hội thậm chí trở thành người xuất sắc trong nhiều lĩnh vực?

Vì vậy việc đánh giá học sinh và giáo viên phải bám vào những quy định liên quan đến mục tiêu toàn diện trong Luật Giáo dục để có phương thức đánh giá thận trọng và hướng vào quá trình phấn đấu, học tập, rèn luyện của học sinh, nỗ lực giáo dục học sinh, làm cho học sinh tiến bộ từng ngày so với chính bản thân mình của giáo viên thay vì chạy theo các con số với lối tư duy áp đặt “mọi học sinh đều phải giỏi như nhau”.

Muốn học sinh học thật thì trước hết học sinh phải được thầy cô, nhà trường cho nói thật, viết thật, sống thật với con người mình.

Hệ lụy của việc áp đặt các con số “chỉ tiêu” đối với giáo viên và nhà trường cũng rất lớn. Khi đặt ra chỉ tiêu, rồi đăng ký thi đua với các con số như bao nhiêu học sinh giỏi, khá, bao nhiêu học sinh đỗ tốt nghiệp…, áp lực của cơ quan quản lý, của người quản lý đối với nhà trường, giáo viên sẽ gia tăng mạnh trong khi điều kiện làm việc và các yếu tố khác không được cải thiện cơ bản. Kết quả là giáo viên, nhà trường, thậm chí cả cán bộ quản lý phải nhắm mắt cho qua, phải gian dối để có con số đẹp báo cáo. Điểm giả, gian lận thi cử… cũng sinh ra từ đây.

Với điều kiện là hãy nói thật với nhau, bao nhiêu hiệu trưởng các trường phổ thông dám tự tin khẳng định các con số thành tích của nhà trường đều là thật? Ví dụ chỉ xét một đầu mục nhỏ thôi là thư viện trường học, bao nhiêu năm nay các trường đều báo cáo thư viện hoạt động tốt, nhiều thư viện đạt chuẩn… nhưng thực tế trong thư viện có bao nhiêu sách, sách đó có phù hợp với học sinh, giáo viên không, bao nhiêu học sinh đang mượn sách và đọc sách của thư viện nhà trường? Nó có khớp với số liệu báo cáo không? Chắc chắn là không nhiều trường trung thực ở chuyện này! Khi cấp trên yêu cầu phát triển văn hóa đọc, thì ngay lập tức có kết quả tốt ngay trong khi bản thân văn hóa đọc không thể tự nhiên một sớm một chiều mà có được. Cả nước mỗi người chỉ đọc 0, 8 cuốn sách/năm như báo chí từng công bố là một ví dụ minh chứng.

Bên cạnh đó cần phải nghiên cứu bỏ đi những kỳ thi không cần thiết để giảm nhẹ gánh nặng thành tích, học để đối phó, từ đó kích thích, tạo điều kiện cho giáo viên, học sinh dạy và học vì những mục tiêu thiết thực, lành mạnh. Cần xem xét và mạnh dạn xóa bỏ hai kỳ thi học sinh giỏi và giáo viên giỏi đang ngày càng biến chất, thiếu lành mạnh mà dư luận và nhiều chuyên gia đã lên tiếng phê bình trong thời gian qua. Một khi các kỳ thi đã biến thành hình thức hoặc bị thao túng bởi những động cơ phi giáo dục thì nó sẽ tạo ra hệ lụy khó lường.

Tuyển dụng, tuyển sinh công khai minh bạch

Giáo dục tạo ra con người và con người đó sẽ được xã hội đánh giá. Nếu đánh giá công bằng, khách quan, đúng đắn, xã hội sẽ thúc đẩy giáo dục phát triển lành mạnh và ngược lại. Bệnh gian dối trong trường học có mối liên hệ sâu sắc và phức tạp với việc tuyển dụng nhân tài, nhân lực sau khi tốt nghiệp. Nếu người tuyển dụng dựa trên hồ sợ đẹp, điểm số đẹp, hạnh kiểm đẹp thì đương nhiên những người muốn được tuyển dụng cũng sẽ tìm mọi cách để có được điều đó. Nếu năng lực không đủ để có được chúng một cách đàng hoàng, họ sẽ tìm các con đường tắt. Đó là lý do tại sao có bằng giả, hồ sơ giả, thành tích giả, học vị giả.

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay khối tư nhân, liên doanh đã tuyển dụng nhân lực, tìm kiếm nhân tài dựa trên năng lực thật sự và hồ sơ, điểm số, thành tích chỉ là điều kiện ban đầu hoặc là tiêu chí tham khảo. Khối hành chính - sự nghiệp cũng cần phải có chính sách tuyển dụng công khai, minh bạch và không chỉ dựa trên bằng cấp hay thành tích điểm số. Nếu việc tuyển dụng trở nên công khai, minh bạch, dựa trên nhiều tiêu chí đánh giá trong đó có thử thách năng lực làm việc thật sự thì sẽ loại bỏ được những người không có gì ngoài “bằng cấp”.

Đối với tuyển dụng giáo viên cho các trường công cần phải có cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ để loại bỏ hoàn toàn chuyện “chạy việc”, “mua việc”. Một khi người giáo viên phải “đút lót”, “hối lộ” để được tuyển dụng viên chức, để được dạy học thì giáo viên đó sẽ cả đời không bao giờ dám ngẩng cao đầu dạy về công bằng, chính trực, trung thực nữa. Thậm chí, chính những giáo viên đó sẽ sẵn sàng gian dối trong công việc và khi họ trở thành cán bộ quản lý, sự việc sẽ nguy hiểm khó lường.

Đối với các trường đại học, cao đẳng khi tuyển sinh cũng tương tự. Cần có các phương thức xét tuyển hoặc thi để kiểm tra năng lực của thí sinh thay vì dựa trên hồ sơ học bạ thuần túy.

Khi làm được như vậy, sự gian dối sẽ không còn điều kiện thuận lợi để sinh sôi. “Học thật, thi thật, nhân tài thật” sẽ trở thành hiện thực, nếu cả người dạy và người học được nghĩ thật, nói thật, làm thật và sống thật với con người của mình. Đấy có lẽ cũng là mong muốn của muôn người chứ không chỉ là những người còn có lương tâm trong ngành giáo dục.

Nguyễn Quốc Vương

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.