Rạp Đại Đồng - nơi an trú của mùa thu

 18:58 | Thứ năm, 03/05/2018  0
Trong những năm Hà Nội vừa được tiếp quản sau 1954, đời sống giải trí vẫn tồn tại các hình thức tư nhân khá nhộn nhịp. Một trong số những địa chỉ làm nên dấu ấn là rạp Đại Đồng, nơi gắn bó với một tên tuổi của tân nhạc Việt Nam: Đoàn Chuẩn. 

Năm 1954 khi Hà Nội được tiếp quản, trên các mặt báo, tin tức về các hoạt động giải trí đô thị tạm thời lắng xuống, nhường chỗ cho không khí tuyên truyền hồ hởi của chiến thắng Điện Biên Phủ. Hà Nội lúc này có 25 rạp chiếu bóng, rạp hát và trên 30 hiệu sách, những phương thức giải trí cơ bản lúc ấy cho dân số nửa triệu người.

Nằm ở địa chỉ 46 Hàng Cót, một phố không quá sầm uất, Đại Đồng vào lúc này không phải là một rạp quan trọng do vị trí nổi bật. Trước năm 1945, đây vốn là trụ sở một trường tư thục. Cho đến hết năm 1954, chương trình của rạp vẫn giống với các rạp khác, chiếu các phim của Liên Xô, Trung Quốc, trong lúc người chủ chuẩn bị vào Nam trong thời hạn 300 ngày đi lại tự do giữa hai miền. 

Tình hình thay đổi đối với rạp Đại Đồng vào những ngày cuối năm 1954. Hãng nước mắm Vạn Vân nổi tiếng đã mua lại rạp này từ tay người chủ Tây đen, theo lời kể lại, có lẽ là một người gốc Ấn hoặc Phi. Và người giám đốc mới chính là nhạc sĩ Đoàn Chuẩn. Tại đây, những tình khúc nổi tiếng nhất của Đoàn Chuẩn đã được ra đời trong chỉ vài ba năm: Lá đổ muôn chiều, Tà áo xanh, Vàng phai mấy láGửi người em gái miền Nam.

Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn. Ảnh: TLGĐ

Vạn Vân là một hãng nước mắm thành lập từ năm 1916, gốc ở Cát Hải, Hải Phòng, sau có cả chi nhánh ở Pháp. Tên hãng đã đi vào cả một bài vè quen thuộc: “Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét”. Là con trai thứ của ông chủ hãng, Đoàn Chuẩn không trực tiếp nối nghiệp nhà mà lại có duyên với âm nhạc.

Những năm 40-50 thế kỷ trước, chàng trai Đoàn Đức Chuẩn sẽ không thể chắc rằng nghề chơi nhạc và gắn với cây đàn guitar Hawaii của mình sẽ lại là công việc chính yếu sau này, chứ không phải nghề thương mại giàu có của gia đình. Cho đến ngày 1.1.1955, rạp Đại Đồng chính thức mở cửa trở lại với tân giám đốc Đoàn Chuẩn, và đây có lẽ cũng là chức danh nghề nghiệp cao nhất trong đời ông.

Địa chỉ của những bản tình ca

Những năm kháng chiến, Hà Nội nằm trong vùng tạm chiếm của Pháp, mang một hình thái đời sống có phần tự do. Địa chỉ hãng Vạn Vân ở 24 Trần Nhật Duật (Hàng Nâu cũ) cũng là một địa chỉ bí mật của nhiều cán bộ hoạt động, trong đó có bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban hành chính Hà Nội. Ảnh hưởng của chiến tranh đến sáng tác của Đoàn Chuẩn khá mờ nhạt, cho dù đã có những ca khúc viết ở vùng tản cư như Ánh trăng mùa thu, Đường về Việt Bắc, mà Việt Bắc ở đây là chiến khu nơi có người vợ đang chờ đợi.

Cho đến trước 1954, Đoàn Chuẩn đã rất thành công với những sáng tác nổi tiếng như Thu quyến rũ, Gửi gió cho mây ngàn bay. Những tình khúc này đánh dấu một bước thay đổi trong tư duy âm nhạc của các nhạc sĩ lãng mạn (mà sau hay dùng từ “nhạc tiền chiến”). Đặc biệt là vị thế người nữ trong ca khúc không còn khuôn theo kiểu nền nếp truyền thống mà ở vai trò những người tình nhân, những kẻ tri âm. Sự khác biệt của các bài hát này đã khiến cho âm nhạc Đoàn Chuẩn có vị thế ấn tượng, cộng với lối sống phong lưu hiếm ai bì, đã nhanh chóng biến ông thành một huyền thoại phố phường.

Việc mua lại rạp Đại Đồng được công bố từ tuần cuối tháng 12. 1954 trên tờ Sông Hồng, một tờ báo tư nhân lúc đó. Trương mục ghi rõ: “Xưởng Vạn Vân ở Hòa Hy, Cát Hải, Quảng Yên, là xưởng sản xuất nước mắm ngon và lớn nhất Việt Nam hoàn toàn ủng hộ rạp Đại Đồng về phương diện tài chính nếu rạp bị lỗ với mục tiêu là rạp Đại Đồng phải phục vụ nhân dân. Với những chương trình ca nhạc đặc sắc nhất, chọn lọc bởi nhạc sĩ Đoàn Chuẩn - tân Giám đốc, được sự ủng hộ hầu hết của các nghệ sĩ thủ đô”.

Điểm đặc biệt của Đại Đồng là biểu diễn ca nhạc bên cạnh chiếu phim, khiến cho rạp thành địa chỉ văn nghệ hấp dẫn. Chương trình của rạp được quảng cáo hàng ngày trên tờ báo này, mỗi ngày hai suất chiếu, chủ yếu là các bộ phim Liên Xô, Trung Quốc. Trong khi đó, phần ca nhạc mỗi chương trình khoảng bốn - năm ca khúc, với các ca sĩ chủ chốt là Minh Đỗ, Thanh Hằng, Anh Tuấn, đôi khi có tài tử Ngọc Bảo. Đáng chú ý là những ca khúc biểu diễn thuộc về dòng ca khúc lãng mạn xen kẽ với những ca khúc kháng chiến.

Chẳng hạn, ngày 2.1.1955, người ta hát Bộ đội về làng của Lê Yên (song ca Thanh Hằng - Thanh Hiếu) thì một tuần sau, là Các anh đi của Văn Phụng (tài tử Ngọc Bảo), là hai bản nhạc phổ từ cùng bài thơ Bao giờ trở lại của Hoàng Trung Thông. Nhiều bài hát của các nhạc sĩ đã di cư vào Nam như Phạm Duy, Dương Thiệu Tước, Phạm Đình Chương, Lê Thương, Ngọc Bích... như Tình ca, Tiếng dân chài, Hòn Vọng phu, Đêm tàn Bến Ngự, vẫn được biểu diễn trên sân khấu rạp Đại Đồng, song song với các ca khúc mới của Văn Cao, Văn Chung, Huy Du, Nguyễn Đức Toàn…

Một số buổi có sự tham gia của ban nhạc Hậu Phương với các ca khúc ca ngợi đời sống mới, Bác và Đảng. Nhìn chung, các ca khúc thiên về chất trữ tình, và đến giờ vẫn là những ca khúc còn được yêu thích. Điều này chứng tỏ thẩm mỹ âm nhạc chọn lọc của người chủ trương sân khấu ca nhạc Đại Đồng. 

Tờ quảng cáo chương trình của rạp Đại Đồng năm 1955

Cuối năm 1954, vẫn có một số phòng trà được mở ra, chẳng hạn như Hoa Việt ở phố Đinh Tiên Hoàng bên Hồ Gươm, cùng với một số địa điểm như rạp Long Biên cũng có biểu diễn theo lối nhạc cũ.

Trong hồi ký, Tô Hoài đã nhắc đến một quán Cây Sấu của bác sĩ Nam Thanh, nơi bà “mở quán chẳng biết để kinh doanh hay là một sự hoài cổ cho nó khuây khỏa bóng chiều. Những khuya vui, bà đệm đàn hát cho vài người nghe những bài hát ngày đầu kháng chiến của Phạm Duy, của Tử Phác... Lưng khoác chiến y. Mà hồn mang bóng quốc kỳ... Quay quay thương nhớ quyến vào tơ...” (Chiều chiều - Tô Hoài).

Đời sống âm nhạc giải trí Hà Nội lúc đó vẫn nhùng nhằng giữa cách hát cũ ở vùng tạm chiếm và cách hát ở vùng kháng chiến mang về. Rạp Đại Đồng hưởng không khí chưa rõ ràng đó và dường như không mang một chủ đề định hướng nào trong các tiết mục ca nhạc, trong khi các bộ phim công chiếu hoàn toàn gồm phim các nước XHCN.

Ở mỗi đô thị, không gian văn hóa chính là những nơi tao nhân mặc khách hội ngộ, làm nên những hội tụ sáng tạo. 

Trong số các ca sĩ chính của ban nhạc Lúa Vàng biểu diễn tại rạp Đại Đồng, ca sĩ trẻ Thanh Hằng, người vừa đoạt giải nhất kỳ thi hát của Đài phát thanh Hà Nội năm 1953, là gương mặt sáng giá. Mặc dù có những đồn đoán mà hậu thế chưa rõ về mối thân tình giữa nhạc sĩ Đoàn Chuẩn vốn nổi tiếng hào hoa với cô ca sĩ trẻ tài sắc, nhưng phải ghi nhận rằng, đây là giai đoạn sáng tác đỉnh cao của người viết tình ca sau cuối của nhạc tiền chiến.

Rất nhiều tình khúc đặc sắc viết sau khi Hà Nội được tiếp quản như Lá đổ muôn chiều (thu 1954), Tà áo xanh (xuân 1955), Vàng phai mấy lá (còn có tên Bài ca bị xé, 1955), Tâm sự (1956) và nhất là Gửi người em gái miền Nam (1956). Những bài hát này theo trí nhớ của nghệ sĩ guitar Hawaii Đoàn Đính, người con duy nhất kế tục nghiệp chơi đàn của cha, đã được Đoàn Chuẩn viết trên tầng ba của tòa nhà rạp Đại Đồng.

Ngay trên bản nhạc viết tay của tác giả cũng ghi rõ địa chỉ 46 Hàng Cót cùng những cái tên viết tắt của kỷ niệm. Những ca khúc trên được xếp vào những bài tình ca hay nhất của tân nhạc, như một cái kết đậm đà của dòng nhạc lãng mạn kể từ khi những bài hát ban đầu ra mắt tại Hà Nội gần hai mươi năm trước.

Người Môhican cuối cùng của nhạc tiền chiến

Đáng chú ý là sau khi Hà Nội được tiếp quản, các nhạc sĩ sáng tác các bài hát lãng mạn theo phong cách “nhạc cải cách” gần như không còn sáng tác. Các nhạc sĩ ở lại Hà Nội như Hoàng Giác, Hoàng Dương, Nguyễn Thiện Tơ, Nguyễn Văn Quỳ... đã chuyển hướng sang các ca khúc về đời sống mới hoặc chuyên về dạy nhạc.

Các nhạc sĩ từ chiến khu về đẩy mạnh sáng tác ca khúc cách mạng, từ bỏ hẳn phong cách lãng mạn trước đây. Riêng Đoàn Chuẩn vẫn cho ra đời những tình khúc như đã nêu. Đến phút cuối, ông vẫn chung thủy với phong cách và cá tính riêng mình. Bài hát cuối cùng của giai đoạn này, Gửi người em gái miền Nam có những chi tiết hưởng ứng không khí đấu tranh thống nhất nước nhà, với những câu “Rồi ngày thống nhất đến rất nhanh khôn ai ngừng. Cầu chia giới tuyến đến mai đây san đất bằng. Nụ cười trong gió sớm anh đến tìm em, giữa cầu Hiền Lương”, nhưng vẫn là sự hoài thai từ một phác thảo tình tự lãng mạn. Ở bản phác thảo đầu tiên, là những câu trăn trở về sự bất toàn của tình yêu trong cuộc đời: “Cành hoa tim tím bé xinh xinh đêm nay tàn... Màu hoa thương nhớ quá nhắc khi người đi cũng tự mùa thu. Chân hoang mang về đâu trong đêm mưa... Một khi em qua bến Hiền Lương. Tôi có người yêu dấu, tuổi chớm dâng hương mắt nồng rộn ý yêu thương... Nhưng một sớm mùa thu khép giữa trời tím ngắt, nàng đi gót hài xanh…”.

Bài hát này cũng là trung tâm của cuộc tranh luận về bản chính thức. Với những người di cư, họ coi đây là một niềm tưởng nhớ đến mối tình dang dở bởi sự chia cắt đất nước, và đồng thời họ hình thành một phiên bản thuần túy u sầu với lời ca đã cắt gọt không giống với bản do chính nhạc sĩ chính thức công bố sau này. Ở phía những người Hà Nội ở lại, họ thấy ở bài hát một thông điệp về sự mong mỏi thống nhất nước nhà. Dù sao thì điểm chung giữa các bản lời này vẫn là chất trữ tình và một khẩu khí có phần kịch tính với cái lõi là một tình yêu lỡ dở.

Có ý kiến cho rằng bài hát là sự tổng hòa của những mối tình, là sự ký thác một mỹ cảm về một Hà Nội đã qua. Có thể có một tình yêu tan vỡ vì chiến tranh, nhưng cũng có thể không có người em gái nào thực sự vào Nam, nhưng huyền thoại của bài hát đã được sinh ra, để những người xa nhau thấy mình trong đó, như lời kết bài ca: “Dịu lòng đàn dẫn phím, ý thơ trào dâng, viết gửi về Nam. Đêm hôm nao, ngồi nghe qua không gian. Em tôi mơ miền xưa qua hương lan. Trời Bắc lóa ánh đèn, một người trên đất Bắc chờ em!” Nó là chương cuối của một thời đại ngắn ngủi nhưng để lại nhiều dấu ấn văn hóa.

Bản phác thảo Gửi người em gái miền Nam năm 1956

Ở mỗi đô thị, không gian văn hóa chính là những nơi tao nhân mặc khách hội ngộ, làm nên những hội tụ sáng tạo. Từ chỗ là một rạp chiếu phim thông thường, Đại Đồng đã trở thành điểm hẹn của âm nhạc trong một giai đoạn bản lề quan trọng của đất nước. Rạp Đại Đồng tiếp tục hoạt động điện ảnh cho đến đầu những năm 1990 đã chuyển sang hình thức vũ trường. Hiện nay là trung tâm văn hóa của quận Hoàn Kiếm. Có lẽ đến lúc nào đó, một tấm biển đề kỷ niệm nhạc sĩ Đoàn Chuẩn ở nơi này cũng là điều nên làm để địa chỉ này được nhớ đến nhiều hơn như một nơi những mùa thu đã ở lại. 

Bài và ảnh: Nguyễn Trương Quý

 

TAGS
bài viết liên quan
Loading...
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.