Tuổi đô thị - tuổi của không gian tôn giáo

 16:34 | Thứ ba, 13/12/2016  0

Vốn là chức năng đô thị

Các nhà nghiên cứu có những giải thích khác nhau về sự hình thành đô thị. Một số chủ yếu dựa vào sự tiến hóa của sản xuất với nghề thủ công ra đời, một bộ phận người lao động tách khỏi nông nghiệp tập trung thành phường, hội cũng là lúc đô thị ra đời. Ban đầu là chợ, nơi trao đổi hàng hóa được giai cấp thống trị chọn thành điểm tọa lạc của chính quyền. Hai khái niệm chợ (thị) và đô (thành) hợp nên đô thị. Số khác cho rằng: “ Các phức hợp nghi lễ đã tạo thành điểm chung cho các thành phố (cité) cổ nhất của thế giới, cũng như những nơi chôn cất rất có thể trở thành những nơi quy tụ đầu tiên, những nơi dừng chân duy nhất của những dân cư vẫn còn du mục... Những thành phố đầu tiên là nhưng nơi chứng kiến các mối quan tâm tôn giáo” (L. Mumford, 1964) v.v..

Khỏi cần các lý thuyết gia hướng dẫn, giờ đây đến bất cứ thành phố nào trên thế giới chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp những không gian, công trình kiến trúc của các tôn giáo khác nhau, nơi các tín đồ khác nhau, thầm lặng hay náo nhiệt thực hành các nghi lễ cũng rất khác nhau, những hình ảnh ấy chưa bao giờ biến mất trong lịch sử đô thị.

Thích nghi với đô thị

Bành trướng lãnh thổ và tích tụ dân số, thuộc số những đặc trưng của quá trình đô thị hóa. Rơi vào vòng xoáy này những gì thuộc về nông thôn tất phải tìm cách thích nghi, kể cả các không gian, công trình tín ngưỡng, tôn giáo.

Bàn thờ ở chốn quê chẳng hạn, thường được ngự trang trọng gian trong giữa mỗi nếp nhà người Việt, ra thành phố, có thể nóc tủ lại là nơi “truy niệm gia tộc”. Rồi hướng nhà, hướng bếp, hướng giường ngủ... nếu đã cố xoay trở mà chẳng thể thoát khỏi tình trạng vốn được thiết kế của căn hộ chung cư, thì gia chủ buộc phải cậy tới thầy phong thủy tìm giải pháp, nếu tín ngưỡng của họ bắt vậy. Khuôn viên các ngôi chùa, đình, đền ở khu “36 phố Hà Nội” trước cuộc chỉnh trang những tuyến phố (cuối thế kỷ XIX đầu XX) chắc chắn phải lớn hơn diện tích bây giờ.

Nhưng cuộc chỉnh trang nổi tiếng đó đã khiến các tam quan công trình phải “phơi ra mặt phố” do mở rộng đường, nghĩa là chúng chẳng thể tiếp tục tọa lạc rộng rãi như tại thôn quê. Những cây hương dựng nơi sân trước các trụ sở nguy nga ở Bangkok (Thái Lan), hay ngự tận trên sân thượng những tòa cao ốc tại Sài Gòn... có thể chỉ là những cách thích nghi khác nhau của chung một tín ngưỡng khi vào thành phố.

Nhà nghiên cứu tôn giáo Peter van der Veer (Hà Lan) thực hiện khảo sát sự biến đổi không gian và thực hành tín ngưỡng, tôn giáo ở nhiều thành phố châu Á cho biết ở Singapore, vì đất đai quốc đảo hiếm, đắt, nên có nhiều kiến trúc tôn giáo chỉ bé như kiosk hàng xén. Và các “chùa, đền, miếu... mini” thuộc các tôn giáo, tín ngưỡng rất khác nhau ấy đã mọc lên chen chúc hòa bình bên nhau trên cùng một tuyến phố chật chội. Hoặc có những chùa lớn ở Thượng Hải (Trung Quốc) nằm tại vị trí “đắc tài đắc lợi”, nên chẳng tội gì người ta không dành mặt tiền cho Louis Vuitton, Gucci, Chanel, hay Burberry... phô trương hàng hóa. Sự cao khiết, khổ hạnh, cũng có thể sát cánh với xa hoa.

Nhưng sự thích nghi với đô thị không nên chỉ hiểu là các không gian, công trình tôn giáo phải tự điều chỉnh quy mô của nó, hoặc nó phải cáng đáng thêm các chức năng kinh doanh du lịch. Mà, theo Peter van der Veer, chính quyền cũng thích nghi với các hoạt động tôn giáo. Những lễ hội khổng lồ với các đám rước hàng chục vạn người diễn ra ở thành phố Mumbai (Ấn Độ) bất chấp tình trạng tắc nghẽn giao thông vào loại nhất thế giới, là một ví dụ. Tất nhiên các cuộc rước xách rình rang đó vi phạm luật giao thông là cái chắc.

Dịch vụ và tài sản

Xin được hiểu đang nói đến hệ thống dịch vụ công cộng. Khái niệm dịch vụ công cộng gắn với vai trò của nhà nước gồm ba loại: hành chính công (chứng thực, cấp phép các loại, khai sinh, tử, hôn nhân, xét xử...); sự nghiệp công (giáo dục, văn hóa, khoa học, chăm sóc sức khỏe, thể dục thể thao, bảo hiểm, an sinh xã hội, giáo dục, y tế...); công ích (quốc phòng, an ninh, giao thông công cộng, điện, cấp nước, vệ sinh, chiếu sáng công cộng...). Và dịch vụ cá nhân (còn gọi là dịch vụ tư cho công chúng, như bán buôn, bán lẻ, khám bệnh, các hoạt động tư vấn...). Không gian chứa đựng các hoạt động dịch vụ công cộng nói trên trong phạm vi đô thị là không gian dịch vụ công cộng đô thị. Dù lớn hay nhỏ chúng cũng đồng thời là một không gian vật thể, một không gian kinh tế, và một không gian văn hóa xã hội.

Nhà thờ ở Sa Pa: loại công trình xây dựng sớm nhất có vai trò tạo lập đô thị này. Ảnh TL

Sở dĩ phải trình bày lôi thôi vì các hoạt động tín ngưỡng (trừ dịch vụ mai táng) hiện chưa có trong bảng thống kê các ngành, nghề dịch vụ công cộng ở Việt Nam. Theo nguyên tắc nếu chưa được được chính quyền thừa nhận là một ngành nghề dịch vụ công cộng, thì hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng khó có cơ may được đưa vào nội dung quy hoạch để dành không gian, đất đai, hay cấp phép xây dựng.

Dẫu một số luật, nghị định... cho phép cấp phép xây dựng mới các công trình kiến trúc tôn giáo, nhưng trong “Quy hoạch hệ thống các công trình dịch vụ đô thị”, hoàn toàn không có nội dung dành cho loại công trình này. Cũng có nghĩa, không thể có chỉ tiêu đất dành xây công trình, không gian cho các hoạt động đó. Nó giúp giải thích tại sao hàng trăm khu đô thị ra đời trong những năm qua, với hàng triệu cư dân sinh sống, hầu như khó tìm ra công trình tôn giáo mới.

Nhìn đại thể có thể thấy các công trình tôn giáo, tín ngưỡng (cũ) tại đô thị nếu đã được xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa thì được Luật Di Sản văn hóa bảo vệ (làm được đến đâu, là chuyện khác). Còn việc xây mới, phục dựng, mở rộng loại công trình này (ở cả đô thị và nông thôn) có thể xảy ra tùy vào từng trường hợp cụ thể (do khả năng thu xếp của chủ đầu tư với chính quyền).

Về cách hình thành tài sản (công trình) tôn giáo hiện nay có khá nhiều trường hợp do tư nhân đầu tư, và họ thường kết hợp với các lợi thế cảnh quan (danh lam thắng cảnh, lịch sử...) có sẵn, có tiềm năng giúp thu hồi vốn nhanh, khả năng sinh lời tốt (qua bán vé, thu công đức, cung cấp các loại dịch vụ kèm theo...) khi biến được chúng thành điểm, chuỗi “du lịch tâm linh”. Đây là sự khác biệt so với mục đích xây dựng công trình tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống.

Cách hình thành tài sản tôn giáo từ cộng đồng vẫn được bảo lưu thường diễn ra ở nông thôn, huy động đóng góp của cư dân làng để phục dựng, xây mới công trình trên phần đất cũ vốn thuộc đất tôn giáo, tín ngưỡng. Tất nhiên quá trình thương lượng để có sự đồng thuận của chính quyền địa phương khá dài, phức tạp.

Hoạt động dịch vụ và tài sản vật chất giúp cho cung ứng dịch vụ quan hệ mật thiết, do vậy những loại tài sản công, hình thành do cộng đồng (chùa làng chẳng hạn), thường miễn phí đối với khách thăm viếng. Trong khi loại tài sản do tư nhân đầu tư, khai thác thường không như vậy.

Từ các nhìn nhận đó, chúng tôi cho rằng nên xếp dịch vụ tôn giáo vào loại dịch vụ không mang tính thương mại, “loại dịch vụ nầy bao gồm các loại dịch vụ công cộng thường do các đoàn thể, các tổ chức xã hội phi lợi nhuận cung ứng, hoặc do cơ quan nhà nước khi các cơ quan nầy thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình” (Đinh Văn Ân - Hoàng Thu Hà - CIEM - phát triển khu vực dịch vụ).

Chức năng và dân số

Bản chất của bài toán phát triển đô thị là luôn tìm mức cân bằng giữa dân số (liên tục tăng, khó đoán trước ở từng khu vực) và quy mô các chức năng (những hệ thống dịch vụ) đáp ứng. Sự khan hiếm bất động sản cho giáo dục, y tế, thương mại, việc làm, giải trí... ở Hà Nội, TP.HCM là ví dụ về sự mất cân bằng này. Học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông chung trường, chung lớp, có nghĩa đứa lớn cố thu mình ngồi học vài năm với bàn ghế tí hon, và ngược lại. Đường phố nào có trường học, tắc nghẽn giao thông giờ tan trường là đương nhiên. Bệnh viện cũng vậy, quá tải khủng khiếp v.v..

Giáo dục, y tế được xếp vào nhóm các công trình dịch vụ đô thị căn bản (bắt buộc) mà còn trong tình trạng vậy, nói gì đến công trình tôn giáo? Nhưng sự lệch lạc, mất cân bằng giữa chức năng và dân số đô thị không phải “tất yếu”, mà có các căn nguyên từ vai trò quản lý nhà nước, và không phải nhà cầm quyền quốc gia nào cũng không thực hiện nổi nhiệm vụ của nó.

Vai trò tôn giáo trong đời sống thế tục tuy không phải nội dung của bài này, nhưng cũng xin dẫn ra điều khẳng định của Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân: “Ở đâu có đồng bào công giáo thì ở đó có cuộc sống bình yên, ở đâu có đồng bào công giáo thì ở đó có kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển”.

Trần Trung Chính

 

 

bài viết liên quan
TAGS
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.