Di sản kiến trúc là “người đẹp” không thể thiếu trong cuộc sống

 11:10 | Chủ nhật, 08/05/2022  0
Độc giả “ruột” của Người Đô Thị chắc hẳn không xa lạ với tác giả Phúc Tiến. Ông từng làm việc tại báo Tuổi Trẻ, Thời báo Kinh tế Sài Gòn trước khi chuyển sang tư vấn giáo dục cho đến nay.

Tác giả Phúc Tiến từng xuất bản hai đầu sách về Sài Gòn là Sài Gòn không phải ngày hôm qua (2016) và Sài Gòn then & now - Sài Gòn hai đầu thế kỷ (2017). Đầu năm nay, ông khiến độc giả bất ngờ khi tham gia chủ biên tác phẩm Kiến trúc Pháp - Đông Dương - những viên ngọc quý tại Hà Nội của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1. 

Sách in khổ lớn với 295 trang, gồm bài viết và nhiều hình ảnh của 36 công trình kiến trúc mỹ lệ ra đời trước 1945.

Nhân dịp này Người Đô Thị có cuộc trò chuyện với tác giả Phúc Tiến xung quanh câu chuyện gìn giữ di sản kiến trúc. 

Trong tác phẩm Kiến trúc Pháp - Đông Dương - những viên ngọc quý tại Hà Nội (NXB Mỹ Thuật) ông đã bộc bạch chỉ mới đến thủ đô từ năm 1984, vậy đâu là cơ duyên để một người Sài Gòn tham gia biên soạn tác phẩm này?

Phải gần mười năm sau thống nhất tôi mới có dịp đến Hà Nội. Năm đó tôi là sinh viên sử năm cuối, ra thủ đô để tìm tài liệu ở các cơ quan thư viện và lưu trữ để làm luận văn tốt nghiệp. Khi làm phóng viên và rồi doanh nghiệp, tôi đi Hà Nội rất nhiều lần. Từ lâu, trong hành trang ký ức và học hỏi của tôi có một phần quan trọng là Hà Nội, đặc biệt là cái “khí vị” của những kiến trúc kiểu dáng Pháp ở thủ đô Việt. 

Đầu năm 2020, khi đến tìm tài liệu về Sài Gòn và Nam kỳ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1, tôi có dịp giới thiệu quyển sách Sài Gòn - hai đầu thế kỷ với chị Trần Mai Hương - Giám đốc Trung tâm. Mấy tháng sau, thật bất ngờ, chị Mai Hương mời tôi góp ý cho cho việc tái bản quyển Kiến trúc các công trình xây dựng tại Hà Nội 1875 - 1945 mà Trung tâm đã biên soạn trước đây. Tôi từng đọc quyển sách ấy và thấy đây là sách quý với nhiều  họa đồ, bản vẽ các công trình kiến trúc tiêu biểu ở Hà Nội thời Pháp.

Tuy nhiên, để “cách tân” quyển sách, tôi đề nghị biên soạn lại nội dung và hình thức theo hướng phục vụ đại chúng, đặc biệt là cho giới trẻ và du khách. Sách ngoài tiếng Việt và tiếng Pháp cần có thêm tiếng Anh và nên trình bày theo kiểu artbook. Sau một số lần nghe tôi góp ý, chị Mai Hương “đặt hàng” tôi làm chủ biên quyển sách mới, hợp cùng ban biên soạn gồm toàn các “nữ tướng” của Trung tâm: Đỗ Hoàng Anh, Hoàng Thị Hằng, Bùi Thị Hệ, Hoàng Thị Phúc, Nguyễn Thu Hiền. Quả là một cơ duyên và cũng là cơ hội cho tôi khi được gởi gắm tình yêu và hiểu biết của mình về Hà Nội.

Quá trình sưu tầm, nghiên cứu và biên soạn sách diễn ra suôn sẻ không?

Quyển sách được biên soạn vào đầu tháng 6.2020 và hoàn thành bản thảo năm 2021, sau đó tiếp tục hoàn chỉnh, đưa vào thiết kế và in xong cuối năm rồi. Thật may mắn là các “nữ tướng” của Trung tâm đã tìm được nhiều tài liệu quý, được bảo quản tốt như họa đồ, các bản nháp thiết kế và chung cuộc với đầy đủ các chữ ký của kiến trúc sư, nhà thầu, cơ quan duyệt xét của khoảng 60 công trình kiến trúc thời Pháp tại Hà Nội. Kể cả các văn bản liên quan đến việc xây dựng và điều hành, cũng như một số hình ảnh có được từ các nguồn trong và ngoài nước. Các bạn còn phụ trách phần biên dịch và nhiều công việc khác. 

Sách vở giới thiệu các công trình kiến trúc hay đẹp đều rất cần thiết, song thật đau lòng nếu chúng ta chỉ còn có thể ngắm nhìn những “mỹ nhân” ấy trên trang giấy hay những hoài niệm xa vắng mà không thể gặp trong thực tế nữa!

Còn nhiệm vụ chủ biên của tôi lọc lựa, bổ sung thêm tư liệu, cập nhật thông tin để viết các bài “khảo tả” công trình và câu chuyện lịch sử của mỗi công trình. Tôi tham gia tìm thêm hình ảnh minh họa, ý tưởng cho thiết kế sách, góp ý biên dịch và tìm người xem lại bản dịch tiếng Anh…

Chỉ có thời gian “cách ly xã hội” do đại dịch Covid-19 cuối năm 2020 và đầu năm 2021, tôi phải tạm dừng việc đi “điền dã”. Khi sách in xong và ra mắt tại Hà Nội, đúng vào dịp cận Tết, chúng tôi thở phào và khoan khoái như nhận được quà Tết tự thưởng cho mình!

Trong tác phẩm, dễ đập vào mắt độc giả cụm từ “Kiến trúc Pháp - Đông Dương”, ông có thể giải thích thêm về định nghĩa này? 

Theo tìm hiểu của tôi, các kiến trúc kiểu Pháp ở Đông Dương không thuần túy Pháp. 

Thời gian đầu khi xâm chiếm Việt Nam, chính quyền Pháp cho xây những dinh thự lớn, những ngôi nhà nguy nga, mang phong cách kiến trúc Đế chế, Tân cổ điển của chính quốc cuối thế kỷ XIX, vừa để biểu dương sức mạnh của mình, vừa phục vụ cho lối sống của họ. Điển hình là các tòa nhà phủ Toàn quyền, phủ Thống sứ Bắc kỳ, Nhà hát Lớn, Pháp đình ở Hà Nội hay dinh Norodom (đã bị phá năm 1963, nay là dinh Độc Lập), dinh Thống đốc Nam kỳ (nay là Bảo tàng TP.HCM), Nhà hát Thành phố, Pháp đình, Bưu điện... 

Thế nhưng, họ cũng phải sửa đổi một số chi tiết các kiến trúc này để phù hợp với khí hậu nhiệt đới. Hơn thế nữa, một số nhà nghiên cứu nước ngoài cho rằng các nhà cai trị thuộc địa và các kiến trúc sư Pháp không muốn sao chép nguyên xi công trình xây dựng ở chính quốc. Ngược lại, họ muốn tạo ra những công trình kiến trúc thế hệ F1 hay F2, không chỉ hay đẹp như ở Pháp mà còn có nét đặc sắc riêng, thậm chí huy hoàng hơn. 

Tác giả Phúc Tiến trong dịp khảo sát tòa nhà Kho bạc Đông Dương xưa, nay là một phần trụ sở UBND Hà Nội. Ảnh: NVCC


Mặt khác, thời gian về sau cho thấy, không như kiểu thực dân nước lớn hẹp hòi, những người Pháp cởi mở hơn và tiến bộ hơn, trong đó giới tinh hoa, nổi bật là các kiến trúc sư, đã muốn đưa văn hóa phương Tây hội nhập với văn hóa bản xứ trong kiến trúc. Họ có thiện chí muốn tôn trọng và phát huy hài hòa các yếu tố hay đẹp của người bản địa trong các công trình xây dựng.

Do vậy, chúng tôi nghĩ đến cái tên có thể thích hợp và đúng nghĩa nhất cho các kiến trúc phối hợp cả yếu tố Pháp và Đông Dương được xây dựng trước 1945 là “Kiến trúc Pháp - Đông Dương“, và đó là “những viên ngọc quý tại Hà Nội”.

Ngày nay, đại chúng vẫn còn băn khoăn tính chất “cổ” với “cũ” của các công trình kiến trúc, đâu là ranh giới giữa chúng? 

Theo tôi biết đến nay ở nước ta việc định nghĩa thế nào là kiến trúc “cổ” hay cũ đều chưa quy định bằng luật. Theo điều 4 của Luật Di sản năm 2001, “cổ vật” được định nghĩa như sau: cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên. 

Nếu áp dụng khái niệm cổ vật cho các kiến trúc cổ, tôi thấy thời hạn 70 - 100 năm là thích đáng nhưng dĩ nhiên kiến trúc đó phải có giá trị hay, đẹp. Mặt khác, điều 28 sửa đổi của Luật Di sản ban hành năm 2009, đã bổ sung hạng mục: “công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật”. 

Do vậy, tôi nghĩ thời hạn bao lâu trong vấn đề kiến trúc cổ cũng chỉ là tương đối. Điều quan trọng nhất để thẩm định các kiến trúc cổ chính là giá trị của nó. 

Phải chăng, bên cạnh bảo tồn, xã hội nên làm mạnh việc quảng bá di sản kiến trúc để hậu thế được nghe câu chuyện đằng sau lớp gạch đá thời gian này?

Gạch đá chỉ là chất liệu. Bản thân kiến trúc là nghệ thuật tổng hợp, làm giàu ý tưởng không gian sống, tạo dựng hình hài nhân văn cho con người. Di sản kiến trúc là “người đẹp” không thể thiếu trong đời sống. 

Tôi rất tiếc cho đến nay ở nhiều dinh thự, công trình xây dựng giá trị cao ở nước ta vẫn chưa có những bảng lưu niệm ghi rõ chi tiết cần biết về tuổi đời và tác giả, cũng như những nét đặc trưng của nghệ thuật kiến tạo. Trong khi ấy, nhiều nước không xa chúng ta như Singapore hay Úc đã làm việc ấy tưởng chừng như nhỏ nhưng rất căn bản từ lâu rồi. 

Sách vở giới thiệu các công trình kiến trúc hay đẹp đều rất cần thiết, song thật đau lòng nếu chúng ta chỉ còn có thể ngắm nhìn những “mỹ nhân” ấy trên trang giấy hay những hoài niệm xa vắng mà không thể gặp trong thực tế nữa! 

Huỳnh Trọng Khang thực hiện

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
bài viết cùng chuyên mục
Xem nhiều nhất

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.