Hà Nội xưa:

Cổng Trại Bảo an binh có từ khi nào?

 22:01 | Thứ sáu, 29/08/2025  0
Bên cạnh Nhà hát Hồ Gươm hiện đại ở phố Hàng Bài có cái cổng cổ nguyên vẹn kiến trúc kiểu tam quan của đình, đền truyền thống. Phía trên còn dòng chữ Pháp Garde indigène (Trại lính khố xanh hoặc Trại bảo an binh). Căn cứ vào tên và tài liệu lưu trữ thì trại là nơi trú quân của lực lượng bảo an binh người Việt.

Khi thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, họ bắt đầu tuyển mộ người Việt, huấn luyện sử dụng vũ khí để hỗ trợ quân Pháp trong các hoạt động quân sự hoặc cùng tác chiến chống lại nghĩa quân. Trang phục của người lính Việt là quần ta, quấn xà cạp từ mắt cá lên đầu gối. Để cái quần khỏi tụt, họ được phát thắt lưng bằng vải  nhuộm màu đỏ thắt ngang bụng nên dân gian gọi là lính khố đỏ.

Tương tự trang phục lính khố xanh cũng giống lính khố đỏ, nhưng khác là thắt lưng của họ màu xanh, dân gian gọi là lính khố xanh. Lính khố đỏ hình thành khoảng năm 1860 sau đó số lượng tăng dần được biên chế thành đơn vị chính qui. Lính khố đỏ do các sĩ quan Pháp chỉ huy.

Hình ảnh tư liệu về Trại Bảo an binh.


Trên một số phương tiện truyền thông và mạng xã hội viết rằng Trại lính khố xanh Hàng Bài (trong đó có cổng) xây năm 1895. Lại có người viết xây năm 1930, người khác viết chung chung là cuối thế kỷ 19. Tuy nhiên theo sách Histoire militaire de l’Indochine Francaise 1859-7.1930 (Lịch sử quân sự Đông Dương thuộc Pháp từ 1859-7.1930), tập 1 do nhà  in Extrême Orient ấn hành thì ngày 30.6.1915, Tổng thống Pháp Raymond Poincaré (nhiệm kỳ từ 1913-1920) ban hành sắc lệnh thành lập lực lượng Bảo an bản xứ (Garde provincial). Lực lượng này có  nhiệm vụ tuần tra, canh gác, bảo vệ. Căn cứ vào sắc lệnh thì Trại Bảo an binh và cái cổng ở 40A Hàng Bài có thể suy đoán trại và cổng được xây dựng năm 1915?

Cũng theo sách Lịch sử quân sự Đông Dương thuộc Pháp từ 1859-7.1930, ngày 13.5.1884 chính quyền Pháp thành lập lực lượng Tirailleurs Tonkinois (lính khố đỏ Bắc Kỳ). Từ năm 1884-1886 ở Bắc Kỳ có 4 trung đoàn lính khố đỏ, mỗi trung đoàn có 4 tiểu đoàn, một tiểu đoàn có 1.000 lính. Cùng với lính trong quân đội Pháp, các đơn vị này có nhiệm vụ dập tắt các phong trào chống Pháp của người Việt Nam và bình định các tỉnh Bắc Kỳ.

Sở chỉ huy của lực lượng  lính khố đỏ đóng ở vị trí nay là 40A Hàng Bài, nó được xây trong khoảng từ 1884-1886, tức là cái cổng cổ hiện nay được xây trong khoảng những năm này. Giai đoạn 1884-1886 tuy chiếm được Hà Nội song quân Pháp vẫn chưa bình định cả Bắc Kỳ và chủ trương của họ là gián trị. Chính chủ trương như vậy nên cổng trại mới có câu đối chữ Hán.  

Trại Bảo an binh và cái cổng ở 40A Hàng Bài có thể được xây dựng năm 1915.


Khi lực lượng bảo an thành lập theo sắc lệnh của tổng thống Pháp, các dãy trại lính bên trong được xây dựng lại. Thiết kế trại là Henri Vidieu, một kiến trúc sư người Pháp. Ông này từng tham gia thiết kế nhiều công trình lớn ở Hà Nội, như: Phủ Toàn quyền, Phủ Thống sứ, Tòa thượng thẩm, Hỏa Lò… Tất cả những công trình hành chính, quân sự do chính quyền Pháp ở Đông Dương xây dựng sau năm 1888, năm Hà Nội là thành phố nhượng địa (consesion) chắc chắn không có chữ Hán mà chỉ có chữ Pháp.

Bằng chứng hiển hiện là Sở cảnh sát Hàng Trống (góc Lê Thái Tổ-Tràng Thi, từng là trụ sở Công an quận Hoàn Kiếm), tòa án ở phố Hàng Tre, Tòa Thượng thẩm (nay là Tòa án  nhân dân tối cao phố Hai Bà Trưng)… chỉ có chữ Pháp không có chữ Hán. Có lẽ cổng trại cũ quá đẹp lại có câu đối chữ Hán nên khi thiết kế lại bên trong trại, kiến trúc sư Henri Vidieu đã  giữ lại cổng nhưng cho đắp thêm dòng chữ: Garde indigène.

Cổng Trại Bảo an binh 40A Hàng Bài có cửa chính và hai cửa phụ hai bên. Hai bên trụ cửa chính có đôi câu đối,  bên phải là Hoàn hoàn ngã võ  duy dương, thi ca tam tiệp (dịch nôm là: Mạnh mẽ võ ta ba lần chiến thắng), bên trái là Tịch tịch biên thành vô sự, dịch hệ trùng môn (dịch nôm là: Lặng yên ven thành bình yên qua hai lớp cửa).

Cổng Trại Bảo an binh 40A Hàng Bài có cửa chính và hai cửa phụ hai bên. Ảnh: Dân Trí


Hai cửa phụ có đôi câu đối, cửa phụ bên phải là Du tái phong thanh môn bất bế (dịch nôm: Gió ở biên ải thổi mát cửa không cần đóng), cửa phụ bên trái là Liễu doanh sương túc dạ vô quynh (dịch nôm: Doanh trại đêm sương nhưng không đơn lẻ). Đáng chú ý nhất là 3 chữ “Võ Duy Dương”. 3 chữ này có nghĩa là người có sức mạnh, duy trì sự bình yên nhưng ở góc độ lịch sử “Võ Duy Dương” là tên của một người quê Bình Định, ông khỏe mạnh, giỏi võ. Năm 1859 ông vào đất Long An cùng Thủ Khoa Huân chiêu mộ nông dân lập đội quân chống Pháp và trong tháng năm chống Pháp ông cùng nghĩa  quân ba lần giành thắng  lợi. Tuy nhiên, do vũ khí thô sơ, lực lượng nhỏ vì thế không thể chống lại quân Pháp có vũ khí hiện đại và đông nên ông đã hy sinh. Câu đối này ngầm ngợi ca tinh thần  chống Pháp của người Việt. Theo nhiều nhà nghiên cứu Hán Nôm, bốn câu đối này ngoài nghĩa  đen còn có nghĩa bóng sâu xa và phải là nhà Nho có tầm hiểu biết sâu rộng mới viết được. Vậy nhà Nho nào đã viết các câu đối này?

Tình hình an ninh năm 1884-1886 ở Bắc Kỳ rất phức tạp vì có quân Cờ Vàng, một toán thổ phỉ ô hợp từ Trung Quốc tràn sang. Chúng  chống quân Pháp song cũng tàn sát cướp của người Việt. Cũng trong thời gian này, khắp Bắc Kỳ, nhân dân hưởng ứng chiếu Cần Vương đứng lên chống quân Pháp. Năm 1885 vua Đồng Khánh đã bổ nhiệm Tiến sỹ Nguyễn Trọng Hợp làm Kinh lược Bắc Kỳ, trước đó ông giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình nhà Nguyễn. Làm quan trong xã hội nhiễu nhương nhưng ông có nhân cách của nhà Nho yêu nước, người Pháp khi đó vừa ghét vừa sợ Nguyễn Trọng Hợp. Ông có bài thơ bộc bạch tâm trạng khi thay mặt vua sang Pháp: "Nay vâng lệnh triều đình đi sứ/ Sắc cầm tay khó xử muôn phần/ Không đi mang tội khi quân/ Đi thì mang tiếng phản dân cầu hòa…”. Vì làm quan nhiều năm trong triều Nguyễn nên Nguyễn Trọng Hợp biết  rõ các phong trào chống Pháp ở khắp nơi nên khả năng là  các câu đối ở cổng Trại bảo an xây năm 1885 do Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp viết.

Tương quan công trình cổng Trại Bảo an binh nằm giữa Nhà hát Hồ Gươm và tòa nhà thuộc Bộ Công an. Ảnh: Dân Trí


Từ năm 1915 cho đến khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9.3.1945, lực lượng bảo an bản địa này có nhiệm vụ giữ gìn an ninh, bảo vệ công sở, an toàn giao thông… Sau khi Nhật hất cẳng Pháp, lực lượng bảo an binh này có nhiệm bảo vệ chính quyền của Thủ tướng Trần Trọng Kim. Tuy nhiên vũ khí là của Nhật và chịu sự chỉ huy của Tổng tư lệnh quân đội Nhật ở Đông Dương. Trước đó, chỉ huy Trại bảo an binh là sĩ quan quân đội Pháp thì sau ngày 9.3.1945 chỉ huy Trại bảo an binh Hàng Bài là đại úy Vũ Văn Thụ.

Ngày 19.8.1945, Tổng khởi  nghĩa diễn ra ở Hà Nội, một bộ phận  đông đảo quần chúng do ông Nguyễn Quyết khi đó là Bí thư Thành ủy dẫn đầu bao vây Trại Bảo an. Sau cả buổi chiều đấu trí, cuối cùng quân Nhật đã rút xe tăng và đơn vị bộ binh về doanh trại.

Tối hôm đó Hà Nội tưng bừng cờ đỏ sao vàng mừng tổng khởi nghĩa  thắng lợi.

Nguyễn Ngọc Tiến

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.