Từ độc lập đến vươn mình phát triển:

Côn Đảo - miền xanh bất tận giữa biển khơi

 09:51 | Chủ nhật, 31/08/2025  0
Côn Đảo 100 năm trước là địa ngục trần gian, 100 năm sau trở thành thiên đường du lịch.

Rất nhiều năm trước tôi từng vài lần đến Côn Đảo vì công việc. Ngày ấy đến với Côn Đảo chỉ có thể bằng tàu sắt lênh đênh trên biển mười mấy tiếng. Vào mùa biển động tàu phải ngừng chạy, hàng tuần không có thực phẩm và hàng thiết yếu chuyển ra đảo. Khi ấy Côn Đảo là một nơi buồn hiu hắt từ ngày này qua tháng khác, chưa có du khách mà chỉ những người có việc đến đây vài ngày hay vài tuần, rồi lại vội vã ra đi... 

Cảnh quan trên đảo chỉ là những hàng bàng cổ thụ luôn đứng im trầm mặc, những khu nhà tù rộng lớn xám xịt, nghĩa địa Hàng Keo, Hàng Dương lạnh lẽo... Điện bằng máy phát chỉ có vài tiếng trong ngày, khoảng 7 giờ tối cả đảo chìm trong bóng đêm. Trong không gian tĩnh lặng chỉ thấy những hình khối đen sì bất động. Ngoài tiếng sóng biển rì rầm, nếu lắng nghe thật kỹ dường như vẫn có những tiếng thì thầm đâu đó... 

Côn Đảo trong lịch sử

Giai đoạn trước công nguyên, từ Côn Đảo vào vùng cửa biển Vũng Tàu - Cần Giờ đã có dấu tích khảo cổ học của các cộng đồng cư dân tiền sử sống ven biển. Đó là các khu mộ chum với nhiều đồ tùy táng bằng gốm, đá quý, vàng, sắt... như giồng Phệt, giồng Cá Vồ (Cần Giờ), giồng Lớn (Long Sơn - Vũng Tàu) và cồn Miếu Bà, cồn Hải Đăng (Côn Đảo)… Hiện vật ở các di tích này có nguồn gốc khác nhau phản ánh mối quan hệ giao lưu văn hóa rất đa dạng và sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống trao đổi thương mại trên đường biển ở khu vực Đông Nam Á và rộng hơn, vào khoảng 2.500 năm cách ngày nay.

Đầu thế kỷ XIX sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức đã ghi chép về cư dân và sản vật Côn Đảo như sau: “Ở giữa biển Đông, từ cửa cảng Cần Giờ chạy thuyền ra biển theo hướng đông mặt trời mọc 2 ngày mới đến. Đảo lớn 100 dặm, có ruộng núi trồng lúa, bắp, khoai, đậu, nhưng cũng không nhiều, nên thường phải mua gạo ở Gia Định mới đủ dùng. Thổ sản ở đây là ngựa và trâu, núi không có cọp beo.

Dân ở đảo tự kết lại làm binh sĩ, gọi Tiệp Nhất, Tiệp Nhị, Tiệp Tam ba đội, trực thuộc đạo Cần Giờ, có đủ khí giới để giữ gìn đất ấy phòng quân cướp hung dữ Đồ Bà, không cần kêu gọi chỗ khác đến giúp.

Dân lính ở đấy thường lấy yến sào, đồi mồi, vích, quế hương, mắm, ốc tai tượng, rồi theo mùa mà dâng nộp; còn lại thì đánh bắt hải sản như cá, tôm để sinh sống. Quả cau ở đây to, vỏ màu hồng, vị lại ngọt thơm, cứ đến đầu mùa xuân, lúc cau ở Gia Định chưa kết quả, thì cau ở đây đã dùng được, người ta chở vào bán với giá rất cao”.

Tài nguyên tự nhiên là nền tảng của sinh kế cộng đồng và phát triển kinh tế - xã hội của Côn Đảo. Trong ảnh: cảng Bến Đầm được xem là cửa ngõ quan trọng ra vào Côn Đảo.


Như vậy, nếu Cần Giờ từng là “cảng thị sơ khai” thời tiền sử thì Côn Đảo được coi là “tiền cảng” của cảng Bến Nghé - Gia Định thời Nguyễn. Vị thế quân sự quan trọng của Côn Đảo là trạm tiền tiêu, Cần Giờ là cửa ngõ của toàn bộ khu vực Nam Đông Dương. Vì vậy, trong lịch sử giữa Côn Đảo, Cần Giờ và vùng/thành Gia Định đã có mối quan hệ chặt chẽ về kinh tế và quân sự. 

Năm 1861 quân đội Pháp chiếm Côn Đảo và biến thành nơi giam giữ các phạm nhân chống Pháp. Từ 1954 chính quyền Việt Nam Cộng hòa tiếp tục phát triển hệ thống nhà tù nổi tiếng khắc nghiệt và lưu đày chủ yếu là tù chính trị. Khoảng 20.000 người Việt Nam thuộc nhiều thế hệ đã chết và được chôn cất tại nghĩa trang Hàng Dương, Hàng Keo và nhiều khu mộ khác.

Cũng từ quá trình biến hòn đảo xinh đẹp bình yên thành một “địa ngục trần gian”, dân cư sống trên đảo bị chính quyền buộc phải đi nơi khác sinh sống vì sợ tù nhân vượt ngục sẽ được người dân che chở và giúp vượt biển trở về đất liền. Từ đó trên đảo chỉ còn nhà tù, tù nhân và những người phục vụ bộ máy chính quyền. Các làng chài biến mất, cộng đồng cư dân di dạt vào đất liền, nghề biển và nghề thủ công chế biến sản phẩm từ rừng và biển mai một dần... Một giai đoạn “lịch sử văn hóa” của cộng đồng cư dân trên đảo bị đứt gãy, thay vào đó là lịch sử đẫm máu dài hơn 100 năm mà bao nhiêu chứng tích còn hiện diện rõ ràng. 

Từ sau 1975, Côn Đảo được biết đến là nơi hội tụ giữa bảo tồn thiên nhiên và chứng tích lịch sử nổi tiếng.

Môi trường xanh - du lịch xanh ở Côn Đảo 

Sau nhiều năm, nay trở lại thấy Côn Đảo đã khác xưa. Từ trên máy bay nhìn xuống thấy cả hòn đảo là một màu xanh thắm, được viền màu xanh biển càng xa bờ càng xanh biếc. Con đường từ sân bay Cỏ Ống về trung tâm đảo một bên là rừng nguyên sinh, một bên là bờ biển và những hòn đảo nhỏ thuộc đảo lớn Côn Sơn.

Hiện nay Côn Đảo đang tích cực triển khai “chuyển đổi xanh”. Thực ra quá trình này đã được thực hiện từ nhiều năm trước, đầu tiên là hạn chế rác thải nhựa. Du khách đặt chân đến đảo là được biết ngay những thông tin liên quan đến bảo vệ môi trường. Tại các khách sạn, cơ sở lưu trú, công sở, đi khắp đảo hầu như không thấy rác thải là bao ny lon, chai nhựa, ly nhựa hay hộp xốp... Tuy nhiên các cửa hàng, các chợ vẫn còn sử dụng loại bao bì này.

Chủ đề thu hút du khách nhất là du lịch lịch sử - tâm linh. Trong ảnh: nghĩa trang Hàng Dương, nơi an nghỉ của nhiều nhà cách mạng


So với nhiều đặc khu khác, Côn Đảo đang giữ một lợi thế cạnh tranh quan trọng: môi trường xanh và sạch theo hướng bền vững. Do nhận thức rõ sự cần thiết, thậm chí tính cấp thiết của việc bảo tồn môi trường tự nhiên nên chính quyền và người dân đều nghiêm túc thực hiện việc loại trừ rác thải độc hại. “Chuyển đổi xanh” ở Côn Đảo bắt đầu từ bảo toàn môi trường tự nhiên, cắt giảm phát thải, chuyển đổi đồng bộ phát triển kinh tế - xã hội - hạ tầng, nhằm tránh cho Côn Đảo nguy cơ tổn thương tự nhiên và văn hóa từ quá trình “hiện đại hóa”. 

Từ lợi thế môi trường sinh thái, du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng nhất của Côn Đảo, định hướng phát triển du lịch sinh thái - lịch sử - tâm linh, với quy mô vừa phải để giữ gìn môi trường và bản sắc địa phương.

Hệ thống nhà tù hàng trăm năm làm cho không gian Côn Đảo chứa đựng yếu tố tâm linh. Trong ảnh: du khách tham quan di tích trại tù


Chủ đề thu hút du khách nhất là du lịch lịch sử - tâm linh. Tuyến điểm chính viếng thăm hệ thống di tích nhà tù Côn Đảo, cầu tàu 914, nghĩa trang Hàng Dương, nghĩa trang Hàng Keo - nơi nhiều tù nhân đã chết trong quá trình lao động khổ sai... Hiện nay các di tích nhà tù thời Pháp, thời Mỹ đều được trùng tu, tôn tạo tốt, giữ được nguyên trạng các trại giam và cảnh quan. Hai nghĩa trang lớn xây dựng khang trang, được chăm chút chu đáo, là nơi tổ chức nhiều hoạt động như lễ tưởng niệm, dâng hương, “đền ơn đáp nghĩa”... thu hút đông đảo khách trong và ngoài nước, đặc biệt vào các ngày lễ lớn. 

Hoạt động du lịch sinh thái - khám phá luôn được kết hợp cùng du lịch tâm linh. Bao gồm các điểm đến như vườn quốc gia Côn Đảo, trekking rừng, leo núi, quan sát chim, động vật hoang dã. Các tour khai thác biển như lặn ngắm san hô, xem bò biển, câu cá biển... Đặc biệt tour xem rùa biển đẻ trứng (hòn Bảy Cạnh, hòn Cau), và sau đó là tour của các tình nguyện viên mang thả rùa con về biển. Qua những hoạt động du lịch gắn với thiên nhiên, nhiều du khách cho biết nhận thức của bản thân về giá trị của tài nguyên rừng, biển được nâng cao, ý thức bảo vệ môi trường được chuyển biến thành hành động thiết thực.

Di tích Nhà Chúa đảo (còn được gọi là Dinh Chúa đảo, Dinh Ông lớn, Dinh Tỉnh trưởng…) là nơi ở và làm việc của 53 đời chúa đảo trong suốt 113 năm (1862 - 1975) tại Côn Đảo


Đồng thời với những chương trình du lịch cho số đông, các cơ sở du lịch nghỉ dưỡng cao cấp đã hiện diện gồm các resort, khách sạn 4 - 5 sao như Six Senses Côn Đảo, Poulo Condor Boutique, The Secret Côn Đảo, Sài Gòn - Côn Đảo Resort... Không chỉ là không gian yên tĩnh, trong lành, cảnh quan biển - núi vô cùng quyến rũ mà các khách sạn này còn nhiều dịch vụ kết hợp chăm sóc sức khỏe, yoga, thiền, ẩm thực hữu cơ... 

Du lịch cộng đồng đang trở thành một hướng phát triển quan trọng ở Côn Đảo. Tuy dân số chỉ hơn 11 ngàn người nhưng đó là nhân tố đầu tiên để Côn Đảo xây dựng du lịch cộng đồng. Các hoạt động trải nghiệm đời sống cùng ngư dân, tham gia một số nghề thủ công như chế biến hải sản, làm mứt, bánh, kẹo từ hạt bàng, tham quan cơ sở nuôi trai lấy ngọc làm đồ trang sức... đang góp phần làm hồi sinh bộ mặt Côn Đảo sau hơn trăm năm biển dâu.

Đi tìm chìa khóa mở cửa “thiên đường” Côn Đảo

Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và quá trình lịch sử đã tích tụ ở đây những di sản quý giá, song cũng dễ bị tổn thương và rất khó khôi phục hay bù đắp. Nhất là hiện nay Côn Đảo trở thành đặc khu thuộc TP.HCM - trung tâm kinh tế lớn, nơi mà di sản văn hóa và môi trường thiên nhiên luôn có nguy cơ chịu tác động mạnh mẽ bởi sự phát triển “nóng” về kinh tế và quá trình đô thị hóa. 

Côn Đảo có một quần thể tự nhiên rừng - biển hiếm có ở Việt Nam, đây là “vốn tự nhiên” quý giá nhất và gần như không thể tái tạo


Từ góc nhìn mối quan hệ gắn bó giữa hệ sinh thái tự nhiên đặc hữu biển - đảo - rừng - núi của Côn Đảo, với quá trình lịch sử - xã hội đặc thù và vị thế gắn bó với thành Gia Định xưa - TP.HCM nay, có thể nhận biết 3 đặc trưng lịch sử - văn hóa của Côn Đảo cần được bảo tồn và phát huy đúng hướng, phải được kiểm soát chặt chẽ về tốc độ và mức độ:

Một, tài sản lớn nhất của Côn Đảo chính là thiên nhiên nguyên sơ, vừa mang tính đa dạng sinh học cao, vừa có nhiều loài và quần xã mang tính đặc hữu nhờ vị trí địa lý tách biệt, khí hậu nhiệt đới hải dương và lịch sử tiến hóa lâu dài. Côn Đảo không có đất sản xuất nông nghiệp, không có nguồn khoáng sản lớn, tuy không là đầu mối giao thông chiến lược nhưng quan trọng về quân sự. Bù lại, Côn Đảo có một quần thể tự nhiên rừng - biển hiếm có ở Việt Nam, đây là “vốn tự nhiên” quý giá nhất và gần như không thể tái tạo nếu bị mất đi. Vì vậy, tài nguyên tự nhiên là nền tảng của sinh kế cộng đồng và phát triển kinh tế - xã hội của Côn Đảo.

Hai, Côn Đảo là vùng văn hóa - lịch sử tâm linh. Thiết chế xã hội đặc thù là hệ thống nhà tù hàng trăm năm tại đây làm cho không gian Côn Đảo chứa đựng yếu tố tâm linh. Trên thực tế tại Côn Đảo đã có hơn hai mươi ngàn người hy sinh, trong đó phần lớn chưa được tìm thấy di cốt, phần khác chưa xác định được danh tính... Đấy còn là “món nợ” của thế hệ sau đối với tiền nhân, cần phải ứng xử tử tế với di sản thiêng liêng này. 

Tính thiêng còn đến từ văn hóa dân gian Côn Đảo qua việc thờ cúng bà Phi Yến và liệt sĩ Võ Thị Sáu. Bà Phi Yến và cậu Hoàng Cải là nhân vật truyền thuyết được tích hợp với tín ngưỡng “thờ bà, thờ cậu” phổ biến của ngư dân Nam bộ, lễ giỗ bà tổ chức hàng năm tại An Sơn Miếu, nay là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Liệt sĩ Võ Thị Sáu hy sinh khi còn rất trẻ, được an táng tại nghĩa trang Hàng Dương cùng hàng ngàn người Việt Nam yêu nước. Ngôi mộ của liệt sĩ và nghĩa trang này cũng trở thành nơi “hành hương” tâm linh, tín ngưỡng mới của du khách trong nước.

Ba, không gian xã hội - cộng đồng bình yên, chất phác. Do điều kiện lịch sử - xã hội nên dân cư Côn Đảo không nhiều và không phát triển kinh tế biển. Thành phần dân cư khá thuần nhất, hiện nay ngoài cán bộ, công chức thì người dân sống bằng buôn bán nhỏ, dịch vụ - du lịch, chế biến thực phẩm... Lối sống thuần phác, tuân thủ luật pháp tốt, ứng xử với du khách khá giản dị, hiền hòa. Đây cũng là một lợi thế trong du lịch, giống như trường hợp phố cổ Hội An nhiều năm trước.

Đây là ba chiếc “chìa khóa vàng” sẽ mở ra những cơ hội để biến Côn Đảo trở thành một “thiên đường du lịch” của Việt Nam và khu vực. Muốn có tương lai bền vững, từ hôm nay phải giữ được thiên nhiên và văn hóa, việc định vị lại hình ảnh Côn Đảo như một khu vực du lịch nghỉ dưỡng, học tập và bảo tồn sinh thái có kiểm soát sẽ giúp Côn Đảo phát triển kinh tế bền vững. Hiện nay, đặc khu Côn Đảo trực thuộc TP.HCM (mới) là sự tiếp nối truyền thống lịch sử, đồng thời cũng mang lại cho Côn Đảo một vị thế quan trọng mới.  

Bài và ảnh: Nguyễn Thị Hậu

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.