Đỏ đen vàng

 10:04 | Thứ ba, 30/04/2019  1
Chúng tôi vẫn ngồi với nhau mỗi tuần mỗi tháng... Đã thuộc về nhau trong âu lo, sẻ chia, bức xúc, không phân định, không gợn đỏ hay đen. Thuần nỗi niềm làm sao hóa giải mọi nhà, làm sao cất cánh, làm sao độc lập, làm sao tự do, làm sao dân chủ, làm sao dân giàu, làm sao nước mạnh...

44 năm tính từ 1975. Không phải gia tộc nào cũng hai phía tót vời như những nhân vật trong Gặp gỡ cuối năm của Nguyễn Khải. Đa số là bình dân va đập, trôi dạt, xôi đậu, ngất ngư. Không ít gia đình chồng người chị đi bưng biền, chồng em gái là sĩ quan Việt Nam Cộng hòa. Ở chỗ bà mẹ chị em nói chuyện cơm áo và con cái, em gái kín đáo nhét tiền cho chị để chị đi thăm chồng, em rể cũng ý tứ nhắc “tên bay đạn lạc, chị nói anh cẩn trọng”. Kết thúc chiến tranh, chị gái đưa tiền lộ phí để em đi thăm chồng đang cải tạo. Đó là món bánh ngậm ngùi mà gia tộc nào cũng có để dọn ra cho nhau.

Đặc thù công việc khiến chúng tôi nhìn thấy và “thưởng thức” thường xuyên món bánh ngậm ngùi kể trên. Và chúng tôi cũng có những quan hệ trơn tru trúc trắc của giới mình. Phía gồm những người bưng biền ra cùng với những người ở Bắc chi viện cho miền Nam đang trống (do càng có bằng cấp càng khó được chính quyền mới tin dùng, ấy là chưa kể số khá đông còn nằm trong trại cải tạo). Phía kia gồm những nhà văn, nhà báo, nhạc sĩ, thầy giáo… bị gọi chung là “đám thua cuộc”. Khoảng vài chục người của sông Hậu, sông Tiền tự nhiên quy tụ như thủy triều, ròng rồi lớn, lớn rồi lại ròng.

Ảnh: Nguyễn Việt Thanh

Khoảng đầu thập niên 80 của thế kỷ trước đã có một cộng đồng quần tụ như vậy. Nhà thơ Nguyễn Bá khi ấy còn hào quang Tổ quốc gọi nơi nào tôi có mặt đã dùng uy tín của mình mở hai trại văn cho cánh viết lách đồng bằng sông Cửu Long (1979 và 1981). Những mối quan hệ cứ rộng dần như sóng nhờ thuyền lướt đi trên hải trình chung sức chung lòng. Chúng tôi đã đón lên nhà văn Mường Mán đang lao động chặt mía cải tạo ở nông trường, rồi dịch giả “ngoài guồng” Nguyễn Bích Như và nhà báo Lê Đình Bì khi ấy mới chỉ là cộng tác viên “chầu rìa” trang quốc tế với các tờ báo lớn ở Sài Gòn, rồi các nhà thơ Phù Sa Lộc, Huỳnh Duy Lộc…

Qua Song Hảo mà chúng tôi được ngồi với nhạc sĩ Trúc Phương đang sống ở Vĩnh Long. Qua thầy giáo lão thành Trương Quang Chế (diện hồi kết nhưng có cha và các anh bị giết trong thời “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ” ở dải đất Quảng miền Trung), con thuyền hy vọng của chúng tôi có thêm Huỳnh Công Tín, Tào Văn Ân, Chiêm Thành Bé... những cây bút nghiên cứu và cũng là những cá tính trên giảng đường (được sinh viên thích nhưng ban giám hiệu ngại). Và nhà thơ Lê Chí tận Cà Mau duyên do muộn thành em rể của nhà thơ cựu lính quân cảnh Trần Kiêu Bạt khiến lai lịch đỏ lòe của anh bỗng trở đen!

Đông và vui. Chúng tôi làm câu lạc bộ văn học cho mấy tỉnh tụ về Cần Thơ, có sinh viên và bạn đọc thư viện làm khán giả. Chúng tôi làm báo, làm tạp chí. Mường Mán trở lại viết sách và sống tạm được, Nguyễn Bích Như dịch giả hot trong không khí mỗi tỉnh một nhà xuất bản bung ra, Lê Đình Bì chính thức có chân trong tờ Thanh Niên (Sài Gòn). Những buổi tụ tập rượu trà tiền túi, thanh đạm và sâu sắc. Chúng tôi nói về tất cả. Nói vì sao và vì sao, mọi chuyện. Như những người trong một nhà. Và chúng tôi nghe Ánh Nguyệt vợ nhà thơ Lê Chí hát nhạc Trịnh, nhạc bolero, dám chắc chưa có người nghiệp dư nào hát hay như Ánh Nguyệt. Bởi lẽ chúng tôi chỉ có chừng ấy người luôn ngồi với nhau nỗi chung và niềm riêng, không khi nào hết chuyện ưu tư.

Mười năm chớp mắt. Mường Mán rục rịch về Công ty Phương Nam ở Sài Gòn. Lê Đình Bì biên chế hẳn ở Thanh Niên đi về Cần Thơ hàng tuần. Song Hảo được đồng tác giả bài hát hot “cao cao bên cửa sổ có hai người hôn nhau”. Thầy Trương Quang Chế và các thầy trẻ ở đại học Cần Thơ túi bụi với các tụ điểm tại chức mọc lên như nấm khắp các tỉnh. Nhạc sĩ Trúc Phương nằm im như anh từng tiên liệu “bạn quên ta tình cũng quên ta nên trắng tay ta giận cuộc đời”. Lê Chí càng bị các đồng chí từng chung chiến hào xa cách bởi những bài thơ thế sự kiểu “Ta nguyền rủa mình/Sao lại dễ quen với thứ cà phê ma quái ấy”.

Dạ Ngân ráo riết làm kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi. Nguyễn Bá bị các quan to quay lưng khi anh sập bẫy kinh tế vì gà mờ mà ham đổi đời. Chúng tôi vẫn ngồi với nhau mỗi tuần mỗi tháng để vừa nghe Ánh Nguyệt hát vừa nói với nhau gan ruột mưu sinh, cơ chế, kiểm duyệt, tại chức và chạy chức... Đã thuộc về nhau trong âu lo, sẻ chia, bức xúc, không phân định, không gợn đỏ hay đen. Thuần nỗi niềm làm sao hoá giải mọi nhà, làm sao cất cánh, làm sao độc lập, làm sao tự do, làm sao dân chủ, làm sao dân giàu, làm sao nước mạnh.

Đã bốn thập kỷ, người vẫn khản tản, tâm tư vẫn bời bời cho dù lũ chúng tôi từng nhìn thẳng vào nhau nói “chúng ta chung máu đỏ, chung tóc đen và chung da vàng, thế thôi”

Một làn gió hay là việc phải đến. Nhiều người rời Cần Thơ để có chỗ khác tốt hơn. Nguyễn Bá về vườn, Lê Chí thì mất người bạn đời có giọng ca vàng vì bệnh nan y. Trào lưu đại học tại chức càng cuối mùa càng ê chề học đối phó, học giúp, học để hợp thức hóa tiêu chuẩn cán bộ nguồn. Thầy Trương Quang Chế về hưu, tiến sĩ Huỳnh Công Tín có công trình để đời Từ điển từ ngữ Nam bộ, tiến sĩ Tào Văn Ân cũng “bỏ của chạy lấy người” vì môi trường tỉnh lẻ. Nhưng vẫn còn một cuộc ngồi lại với nhau mà tình cờ nó đã bao bọc chúng tôi bằng sự kiện không thể nào quên.

Đó là ngày tân niên 1991. Chúng tôi liên hoan đạm bạc nhưng rồi đã ngồi lại quanh chiếc radio-cassette của nhà văn Mường Mán. Thế giới sắp rung chuyển. Thế giới nín nghe rầm rập bước chân chiến tranh. Người Mỹ! Sự có mặt sấm sét của người Mỹ thịnh nộ với Trung Đông. Có tránh được không, sao không cố tránh hay là không tránh được? Đài BBC, cả lũ chúng tôi chụm đầu vào nhau để ngóng nghe. Khai hỏa rồi, cuộc chiến Vùng Vịnh! Thật sao? Người này nhìn người kia cùng rơm rớm nước mắt. Có sa lầy không, có nên không, sẽ có nhiều túi xác để đưa về cho nước Mỹ, cho người dân Mỹ nữa ư? Lần duy nhất nói và nghĩ cùng với nhau mỗi một chuyện chiến tranh và những hệ lụy kinh hoàng từ nó.

Hai thập kỷ nữa chứ ít đâu. Vật đổi sao dời. Mường Mán phải mở quán nuôi con ăn học. Huỳnh Công Tín đã có công trình đồ sộ thứ hai. Tào Văn Ân thành facebooker “ác chiến”, Dạ Ngân kéo chồng về làm cá với nước sông Sài Gòn, Song Hảo điền viên đất cồn, Trúc Phương ra người thiên cổ, Lê Chí thờ vợ chứ không thờ những thứ vì nó mà anh dấn thân. Phù Sa Lộc cũng góa sớm như Lê Chí. Lê Đình Bì “ừ nhỉ người đi thật” khi đang là thành viên Ban thư ký báo Thanh Niên, Huỳnh Duy Lộc cũng thành người của phương trời khác. Đã bốn thập kỷ, người vẫn khản tản, tâm tư vẫn bời bời cho dù lũ chúng tôi từng nhìn thẳng vào nhau nói “chúng ta chung máu đỏ, chung tóc đen và chung da vàng, thế thôi”.

Vẳng trong nhau câu Ánh Nguyệt hay hát:

Gia tài của mẹ 
Để lại cho con 
Một nước Việt buồn... 

Dạ Ngân

 

bài viết liên quan
Loading...
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.