Giám đốc BV Chợ Rẫy: 'Cần chuẩn bị kịch bản nếu có biến chủng mới'

 10:53 | Thứ hai, 01/11/2021  0
TS Nguyễn Tri Thức cho rằng TP.HCM cần sớm chuẩn bị kịch bản để ứng phó với tình huống biến chủng mới xuất hiện và không đáp ứng vaccine hiện tại.

TS Nguyễn Tri Thức, Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy, đại biểu Quốc hội TP.HCM, cho rằng TP.HCM đang ở giai đoạn cuối cùng của dịch. Đây là thời điểm cần thiết để thành phố đánh giá lại ưu, khuyết của quá trình chống dịch vừa qua.

Ông Thức nhấn mạnh việc nhìn lại này như xem một trận đấu đã biết tỷ số; do đó, việc đánh giá cần khách quan, không vì mục đích phê phán mà để rút kinh nghiệm nếu dịch không may trở lại.

Trao đổi với phóng viên, vị bác sĩ nêu ra nhiều cái khó của ngành y khi các chính sách được thiết kế trong điều kiện bình thường không còn phù hợp trong và sau đại dịch. TP.HCM cần sớm rút ra bài học, vừa để chuẩn bị cho giai đoạn tới, vừa truyền kinh nghiệm cho các tỉnh, thành bạn để tránh tình trạng lúng túng lặp lại.

Nếu dịch trở lại, cần làm gì?

- Hiện, dịch bệnh tại TP.HCM đã cơ bản được kiểm soát và thành phố tập sống thích ứng với COVID-19. Theo ông, trong tình hình hiện tại, tiến độ mở cửa của TP.HCM nên thế nào?

TS Nguyễn Tri Thức, Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy.

- Sau khi ngưng hoạt động thời gian quá lâu thì tâm lý chung của một số người là mong muốn mở lại sớm. Nhưng với tình hình dịch này, việc mở cửa nên áp dụng đúng theo Nghị quyết 128 của Chính phủ, không nên chủ quan, mở vội quá. Thế giới hiện đã có biến chủng mới, nếu chủ quan, dịch có thể trở lại.

Thành phố đang chịu hai sức ép, một là phát triển kinh tế; hai là một bộ phận người dân có tâm lý muốn bung ra sau thời gian dài giãn cách. Việc cân bằng hai tâm lý này rất quan trọng, không nên vì sức ép kinh tế mà có tâm lý bung quá sớm, hậu quả là thiệt hại nhiều hơn.

Hiện, tôi nhận thấy chính sách của TP.HCM là hợp lý và có đánh giá toàn diện theo Nghị quyết 128, mở cửa từng bước phù hợp. Việc siết quá là không cần thiết, đặc biệt khi Tết sắp đến, nếu mở quá cũng không được. Do đó, cần cân nhắc thời điểm nào mở đến đâu.

- Trong lúc này, ngành y tế cần làm gì để chuẩn bị cho giai đoạn bình thường mới?

- Tôi từng nêu ý kiến nên có một buổi họp giữa Thành ủy, UBND, Sở Y tế, giám đốc các đơn vị và giám đốc trung tâm hồi sức Trung ương để đánh giá toàn diện. Cuộc họp nên mời những người thực sự tham chiến, không thể làm chung chung, giờ không phải lúc để nói lý thuyết.

Mục tiêu là tổng kết những gì đã diễn ra, phân tích sâu sắc hạn chế, nguyên nhân khách quan, chủ quan. Từ kết quả này, thành phố mới có căn cứ xây dựng kịch bản cho bình thường mới.

Ví dụ, khoảng hai tuần đầu khi dịch bùng phát, mình rất lúng túng. Giờ phải nhìn lại và phân tích xem lúng túng vì điều gì và giả sử dịch quay trở lại, cần làm gì để không lúng túng nữa.

- Phải chăng giai đoạn đó, TP.HCM lúng túng vì còn đánh giá chủ quan nguy cơ của dịch?

- Giai đoạn đó, không ai chủ quan hết, vấn đề là dịch lây lan quá nhanh khiến mình trở tay không kịp.

Trong 2-3 tuần đầu, thành phố đúng là có bối rối trong điều phối bệnh, và năng lực y tế cơ sở khi đó quá tải. Sau đó, thành phố lấy lại cân bằng và các hoạt động đi vào nền nếp. Đến nay, thực tế, tỷ lệ tử vong của Việt Nam so với những nước có nền y tế tương tự ở mức trung bình, không cao.

Thực ra, thời điểm này nhìn lại giống như đã biết tỷ số một trận đấu bóng đá. Việc đánh giá tại sao không làm thế này, tại sao bỏ lỡ tình huống kia là không khách quan. Tôi cho rằng không nên phê phán quá bởi đại dịch là “tai nạn” của nhân loại, chưa có tiền lệ. Tất cả là lần đầu tiên. Đừng quy trách nhiệm và đổ lỗi cho ai bởi thời điểm đó ai cũng lúng túng. Điều cần làm là sửa, điều chỉnh và không để tái diễn.

Việt Nam cần chuẩn bị

- Ông vừa nói giai đoạn đầu, thành phố có bối rối trong công tác điều phối bệnh. Xin ông giải thích rõ hơn vấn đề này?

- Đầu tiên là điều phối. Khi đó, mình cứ nghĩ người bệnh mức nào phải vô tầng đó, nhưng người bệnh không suy nghĩ vậy. Bệnh mức độ nào là kiến thức y khoa, còn người dân đâu giống bác sĩ. Khi bệnh, họ lo lắng, ở tình trạng khó thở thì nơi nào tiện nhất họ sẽ vào.

Ví dụ, nhà người bệnh ở gần bệnh viện tầng 3, bắt người ta chạy vòng vòng vào đúng bệnh viện tầng 1 đâu được. Mình phải hiểu tâm lý người bệnh. Giai đoạn đầu rối chỗ đó. Phân tầng là đúng, nhưng phải chuẩn bị tinh thần là người bệnh có quyền vào bất kỳ chỗ nào, sau khi sơ cứu, cấp cứu xong thì có thể vận chuyển lại cho đúng tầng.

Thứ hai là chia tầng điều trị. Từ đầu, cá nhân tôi luôn ủng hộ 3 tầng điều trị vì khi chẻ nhỏ quá, người bệnh không hình dung hết được. Việc gì cấp bách thì càng ngắn gọn, càng dễ áp dụng càng tốt, không nên “chia 5 xẻ 7”.

Thứ ba là phối hợp giữa các tầng điều trị với nhau, phải phân địa bàn, liên kết lại và hội chẩn trực tuyến 24/24, đánh giá bệnh nhân nào phải chuyển tuyến liền.

TS Nguyễn Tri Thức cho rằng trong đại dịch, các nhân viên y tế phải làm việc gấp 4-5 lần bình thường nhưng không được hưởng phụ cấp tương ứng. Ảnh: Duy Hiệu


Tham chiến từ đầu dịch tới giờ, tôi nhận thấy điều trị COVID-19 chỉ có hai vấn đề cốt yếu. Thứ nhất là thời điểm nào bệnh nhân được thở oxy, đây là mấu chốt chứ không phải thuốc. Thứ hai là thời điểm nào bệnh nhân được vận chuyển đúng tầng điều trị. Giải quyết được 2 thời điểm này đúng theo bệnh lý của người bệnh thì khả năng cứu được rất cao.

Ngay khi nhận bệnh viện hồi sức 1.000 giường, chiến lược của chúng tôi là phải đánh chặn từ xa. Đó là bệnh viện tuyến cuối, toàn bệnh nhân nặng và nguy kịch. Thế nhưng, nếu ngồi chờ bệnh nhân nặng rồi thở máy, can thiệp ECMO sẽ tốn nhiều nhân lực, vật lực, tài lực mà tỷ lệ cứu được bệnh nhân rất thấp, có bệnh nhân nằm 1-2 tháng cũng ra đi vì tình trạng bệnh quá nặng. Chúng tôi điều động bác sĩ xuống bệnh viện tầng 2 để điều trị ngay từ tuyến dưới, hạn chế bệnh nhân chuyển nặng.

- Có ý kiến cho rằng giai đoạn đầu thành phố nên nâng cao năng lực y tế cơ sở trước để "đánh chặn từ xa" thay vì lập bệnh viện hồi sức 1.000 giường. Ông đánh giá thế nào về ý kiến này?

- Tôi cho rằng nhận định này đến từ những người không tham chiến trực tiếp. Theo tôi, lập bệnh viện hồi sức 1.000 giường thời điểm đó là đúng. Bằng chứng là bệnh viện hồi sức vừa mở lập tức tiếp nhận hơn 300 bệnh nhân nặng, nguy kịch. Nếu không có bệnh viện đó, ai sẽ cứu bệnh nhân?

Lượng bệnh nhân nặng khi đó rất lớn, tăng lên ào ạt chứ không từng bước, đòi hỏi ngành y tế phải lập tức giải quyết, nếu đợi để nâng năng lực các tầng dưới sẽ không kịp.

Tỷ lệ tử vong của bệnh nhân nặng và nguy kịch ở bệnh viện hồi sức COVID-19 (tầng điều trị thứ 3) là khoảng 31%. Nhưng nếu không có bệnh viện đó thì liệu có cứu được 70% còn lại không?

Thực tế, trước dịch, trong hệ thống y tế của Việt Nam và các nước thì hồi sức cấp cứu là điều trị cá thể chứ không phải điều trị dịch bệnh. Do đó, không ai đi sắm ào ạt các thiết bị điều trị hồi sức cấp cứu, để sẵn đó chờ dịch. Như vậy là cực kỳ lãng phí. Đùng một cái xảy ra dịch thì đại dịch là tai nạn, đương nhiên sẽ có sự lúng túng.

- Trong dịch, nhiều tình huống “thời chiến” gặp phải khung pháp lý “thời bình” gây không ít khó khăn cho công tác chống dịch. Có khi nào ông gặp khó vì có vấn đề phát sinh trong thực tế nhưng chưa được quy định trong luật?

- Khi dịch xảy ra quá nhanh, chuyện cơ chế còn bất cập trong giai đoạn đầu chống dịch là bình thường. Quan trọng là sau đó giải quyết có kịp thời không.

Thời điểm mới thành lập bệnh viện hồi sức 1.000 giường, việc mua sắm khó, đấu thầu không kịp. Dù Luật Đấu thầu quy định trong trường hợp khẩn cấp được phép chỉ định thầu, khi đi sâu vào chi tiết có tình huống rất khó áp dụng.

Chính các nhà tài trợ, doanh nghiệp, người dân đã “giải cứu” bệnh viện. Họ tới hỏi chúng tôi cần gì, mình chỉ việc nói là họ đi mua. Tài sản tư nhân nên họ mua sao cũng được, sáng nói, chiều có liền, còn đợi thủ tục thì không thể nhanh vậy.

Nhưng đó là giải quyết tình thế tức thời, sau đó, tôi kiến nghị vấn đề lên Bộ Y tế. Chính phủ và Bộ Y tế cũng liên tục tham khảo ý kiến các cơ sở. Kết quả là Quốc hội ban hành Nghị quyết 30 và Chính phủ ra Nghị quyết 79 về mua sắm thuốc, hóa chất, vật tư, trang thiết bị, phương tiện phục vụ phòng chống dịch COVID-19.

Ngoài trang thiết bị, việc điều động nhân viên khó áp dụng theo luật. Phụ cấp, chế độ cũng chưa hợp lý dù mỗi người làm việc gấp 5-10 lần ngày thường.

Ví dụ, người đang đi chống dịch mà thành F0, phải điều trị thì tính phụ cấp ra sao? Họ tham gia chống dịch theo lời kêu gọi của mình mà ốm, thế nhưng, theo quy định, áp dụng trường hợp bị ốm thông thường thì chỉ được hưởng 75% lương. Như vậy, người đi chống dịch làm việc vất vả, bị nhiễm bệnh, đã không được gì còn bị giảm lương. Vậy coi sao được!

Hay trường hợp người chống dịch phải cách ly y tế (do là F1, F2 hay ở trong khu phong tỏa), họ rất muốn đi làm nhưng không được. Mình chấm họ nghỉ phép đâu được, mà nếu chấm nghỉ ốm thì theo quy định bảo hiểm xã hội chỉ được hưởng 75% lương.

Bên cạnh đó, cũng phải xem lại việc công nhận liệt sĩ cho những người hy sinh trong chống dịch. Phức tạp hơn nhưng cần thiết là công nhận thương binh cho những người tham gia chống dịch nhưng bị nhiễm bệnh, suy giảm sức khỏe. Ví dụ, có những trường hợp chức năng phổi chỉ còn 1/3, teo cơ, khả năng lao động giảm sút thì cần có hội đồng đánh giá mức độ tổn thương để họ được công nhận thương binh.

- Vậy theo ông, trong giai đoạn mới, có nên xây dựng kịch bản cho tình huống khẩn cấp để khi xảy đến, toàn hệ thống chỉ cần “bật công tắc” ứng phó, tránh lúng túng như trước đây?

- Những quy định này thật ra đã có, vấn đề cần làm là hệ thống hóa lại vì lúc ban hành văn bản chỉ chạy theo để xử lý tình huống cấp bách. Đây là giai đoạn cuối dịch ở TP.HCM, cần có phân tích, đánh giá, nêu rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan một cách sâu sắc.

Ví dụ, đặt tình huống biến chủng mới, tốc độ lây lan nhanh hơn Delta mà không đáp ứng vaccine thì mình kích hoạt hệ thống thế nào? Hiện, quốc tế đã xuất hiện chủng Delta Plus, TP.HCM cần sớm xong kịch bản này để có thể chuyển giao kinh nghiệm cho các tỉnh, thành phía nam và Tây Nguyên, nơi đã nhá nhem dịch trở lại.

Điều may mắn của TP.HCM là vaccine đáp ứng với chủng nhiễm hiện tại. Nhưng nếu chủng mới không đáp ứng vaccine thì sao? Chúng ta cần tính tới cả con đường này.

Thu Hằng thực hiện

Chủng Delta dễ lây truyền ở những người đã tiêm 2 mũi vắc xin khiến miễn dịch cộng đồng khó lâu dài

Một nghiên cứu ở Anh cho thấy biến thể Delta của SARS-CoV-2 có thể lây truyền dễ dàng từ những người đã tiêm 2 mũi vắc xin sang những người tiếp xúc trong nhà, mặc dù những người tiếp xúc ít có khả năng bị nhiễm bệnh hơn nếu đã tiêm phòng.

Nghiên cứu của Cao đẳng Hoàng gia London minh họa cách thức mà biến thể Delta có thể lây lan ngay cả trong một quần thể đã được tiêm vắc xin.

Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng điều đó không làm suy yếu lập luận tiêm vắc xin là cách tốt nhất để giảm bệnh nghiêm trọng do COVID-19 và cho biết cần phải tiêm nhắc lại.

Họ phát hiện ra người đã tiêm vắc xin mắc COVID-19 mau khỏi bệnh hơn nhưng tải lượng vi rút tối đa vẫn tương đương với người chưa tiêm chủng.

Tiến sĩ Anika Singanayagam, đồng tác giả của nghiên cứu, cho biết: “Bằng cách thực hiện việc lấy mẫu lặp lại và thường xuyên từ những người tiếp xúc với ca mắc COVID-19, chúng tôi nhận thấy rằng những người được tiêm vắc xin có thể mắc bệnh và lây nhiễm vi rút trong các hộ gia đình, bao gồm cả các thành viên trong gia đình đã được tiêm vắc xin”.

"Phát hiện của chúng tôi cung cấp những hiểu biết quan trọng về tại sao biến thể Delta tiếp tục gây ra số ca COVID-19 cao trên khắp thế giới, ngay cả ở những quốc gia có tỷ lệ tiêm vắc xin cao", ông nói thêm.

Nghiên cứu thu hút 621 người tham gia đã phát hiện ra rằng, trong số 205 người có các "tiếp xúc gia đình" với những ca nhiễm biến thể Delta, tỷ lệ dương tính ở những ai đã tiêm 2 liều vắc xin là 25%, thấp hơn tỉ lệ 38% của nhóm chưa tiêm phòng.

Những người tiếp xúc đã tiêm vắc xin có kết quả dương tính đã chích ngừa COVID-19 trước đó lâu hơn so với những người có kết quả xét nghiệm âm tính, điều mà các tác giả cho biết là bằng chứng về khả năng miễn dịch suy giảm và ủng hộ nhu cầu tiêm nhắc lại.

Nhà dịch tễ học của Cao đẳng Hoàng gia London - Neil Ferguson nói rằng khả năng lây truyền của Delta có nghĩa là nước Anh khó có thể đạt được miễn dịch cộng đồng trong thời gian dài.

Ông nói với các phóng viên: “Điều đó có thể xảy ra trong vài tuần tới: Nếu mức độ lây truyền hiện tại của dịch bệnh lên đến đỉnh điểm và sau đó bắt đầu giảm, theo định nghĩa, chúng tôi đã đạt được khả năng miễn dịch cộng đồng, nhưng đó sẽ không phải là điều lâu dài. Khả năng miễn dịch suy giảm theo thời gian, nó không hoàn hảo, vì vậy bạn vẫn bị lây truyền bệnh. Đó là lý do tại sao chương trình tiêm tăng cường lại rất quan trọng".

Các kết quả theo một hướng nào đó nhằm giải thích tại sao biến thể Delta lại dễ lây lan ngay cả ở những quốc gia triển khai vắc xin thành công và tại sao những người chưa được chủng ngừa không thể được bảo vệ vì những người khác đã tiêm vắc xin.

Những người được tiêm vắc xin loại bỏ vi rút nhanh hơn và có các trường hợp nhẹ hơn, trong khi các thành viên trong hộ gia đình không được tiêm chủng có nhiều khả năng bị bệnh nặng và phải nhập viện.

Ajit Lalvani, Giáo sư về các bệnh truyền nhiễm tại Cao đẳng Hoàng gia London, người đồng dẫn đầu nghiên cứu, cho biết: “Phát hiện của chúng tôi cho thấy chỉ tiêm vắc xin không đủ để ngăn mọi người nhiễm biến thể Delta và lây lan nó trong môi trường gia đình. Sự lây truyền đang diễn ra mà chúng ta đang thấy giữa những người được tiêm vắc xin khiến những người chưa được tiêm chủng cần phải tiêm phòng để tự bảo vệ mình”.

Việc chủng ngừa được phát hiện làm giảm sự lây truyền biến thể Alpha (lần đầu tiên được phát hiện ở Anh vào cuối năm 2020) trong gia đình từ 40% đến 50% và những người được tiêm vắc xin nhiễm bệnh có tải lượng vi rút ở đường hô hấp trên thấp hơn những người không tiêm phòng. Tuy nhiên, biến thể Delta đã là dòng chủ đạo trên toàn cầu trong một thời gian.

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khả năng miễn dịch từ việc tiêm 2 mũi vắc xin sẽ suy yếu sau ít nhất 3 tháng. Các tác giả cho biết không có đủ dữ liệu để đưa ra lời khuyên về việc liệu điều này có dẫn đến sự thay đổi trong chính sách tiêm tăng cường của Anh hay không, trong đó liều vắc xin thứ ba đang được cung cấp cho những người lớn tuổi và dễ bị tổn thương hơn 6 tháng sau lần tiêm thứ hai.

Neil Ferguson cho biết 6 tháng là khoảng thời gian tùy ý được chọn theo dữ liệu ban đầu từ Israel về hiệu quả của liều tăng cường, nhưng không có lý do gì để tin rằng chúng sẽ kém hiệu quả hơn nếu được đưa ra sớm hơn.

Ajit Lalvani cho biết, chương trình tiêm tăng cường có thể giúp ngăn chặn vi rút vì các mũi tiêm bổ sung lặp đi lặp lại có xu hướng dẫn đến trí nhớ miễn dịch lâu hơn, có khả năng bảo vệ con người lên đến một năm. Ông nói: “Cần thêm dữ liệu để xác nhận điều này”.

Các tác giả đã không phân tích các trường hợp nhiễm vi rút SARS-CoV-2 dựa trên loại vắc xin mà họ đã nhận được. Maria Zambon, trưởng phòng virus cúm và hô hấp tại Cơ quan An ninh Y tế Anh, lưu ý rằng vẫn còn hơn 300 loại vắc xin đang được phát triển và cho biết có thể các thế hệ vắc xin trong tương lai có thể ngăn ngừa lây truyền tốt hơn.

Sơn Vân (Một Thế Giới)

Nguồn Zing.vn, Một Thế Giới
bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
bài viết cùng chuyên mục
Xem nhiều nhất

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.