Nước, cá và đời sống

 10:49 | Thứ năm, 19/03/2020  0
Có thể nói, lịch sử dân tộc Việt Nam gắn liền với sông nước, biển cả và với nghề cá. Do đó, cần phải hết sức bảo vệ môi trường sông biển và nguồn cá như là bản mệnh của mình.

1. Trên trái đất, nước chiếm đến hơn 3/4. Trong cơ thể của sinh vật, thành phần cấu tạo chủ yếu cũng là nước. Riêng ở người và thú, ở giai đoạn hoài thai, bào thai hoàn toàn nằm trong khối nước ối trong tử cung của cơ thể mẹ. Do con người được sinh ra từ môi trường nước, lớn lên nhờ môi trường nước nên khi chết đi họ cũng quan niệm rằng chính là trở về với môi trường nước. Đó chính là nguồn gốc của quan tài hình thuyền và tục hò đưa linh khá phổ biến ở cư dân Đông Nam Á.

Hầu hết các chất đều có thể tan trong nước nên nước chính là trung tâm tái sinh của vạn vật.

Do sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước nên sau đất thì nước là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với người Việt. Đặc biệt, khi hệ thống thuỷ lợi và khoa học kĩ thuật còn chưa phát triển thì mùa màng càng phụ thuộc vào lượng nước mưa, dẫn đến tín ngưỡng sùng bái nước. Tín ngưỡng này ở người Việt đồng bằng Bắc Bộ chủ yếu thể hiện qua việc thờ tứ pháp (bốn vị thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp), còn ở đồng bào Khmer Đồng bằng sông Cửu Long là thần Neakta-tức (thần nước) và rắn thần Naga.

Vui đùa trong nước như một cách giải nhiệt của trẻ những ngày nắng nóng. Ảnh: Tri Thức Trẻ

2. Có rất nhiều loài sinh vật sống trong môi trường nước, nhưng chủ yếu là cá. Nói đến cá, người ta nghĩ ngay đến nước, và ngược lại. Do đó, cá chính là vật chỉ thị cho đặc tính của nước. Nói cách khác, căn cứ vào đặc điểm của cá, người ta có thể phân tích được đặc tính của môi trường nước mà nó sống, và rộng ra là cả môi trường sống nói chung.

Chính vì vậy mà xưa nay dân gian vẫn tin rằng có mối dây cảm ứng giữa cá và người: “Chim sa cá lặn” trước trang quốc sắc thiên hương, “Chim sa cá luỵ” là chỉ báo điềm xấu… Các giai thoại Gia Long tẩu quốc ở Nam Bộ xưa nay cũng kể nhiều sự tích cá tạo điềm báo để chúa Nguyễn Ánh thoát thân trong bước hiểm nghèo.

Đặc biệt, trong các thế kỉ trước ở Nam Bộ có hiện tượng Sư Vãi Bán Khoai thường thay hình đổi dạng, vân du khắp nơi để tiên tri ngày tận thế, khuyên dân chúng làm lành lánh dữ để thoát khỏi tai ương vào cuối thời mạt pháp, đặng bước vào hội Long Hoa, được tái sinh trong cuộc đời mới. Và theo ông, triệu chứng để nhận biết giai đoạn cuối kì mạt pháp là cá dưới sông chết hàng loạt:

Lời khuyên thảy hết tây đông,

Chừng nào hết cá dưới sông hết đời.

Cá ở đây cần được hiểu cả cá dưới sông, trên đồng ruộng và cả dưới biển.

Mặc dù dữ kiện nói trên nằm trong chuỗi huyền hoặc của thể loại sấm truyền, nhưng vẫn không phải là không có căn cứ thực tế. Bởi lẽ, nói theo cách nói ngày nay, thì cá chết chính là do môi trường sống bị ô nhiễm quá trầm trọng. Và đó chính là chỉ báo cuối thời kì mạt pháp, khi đạo đức nhân loại bị băng hoại nghiêm trọng, dẫn đến tự huỷ diệt.

3. Nhìn vào thực trạng xã hội Việt Nam vài năm qua, có thể thấy các triệu chứng đáng báo động về môi trường cũng chính bắt đầu từ cá. Nhiều tỉnh ở hạ lưu sông Mekong như Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng…, cá và hải sản nuôi bị chết hàng loạt do nước bị nhiễm mặn quá cao. Đặc biệt vào giữa năm 2016, cá biển ở các tỉnh Bắc Trung Bộ cũng chết hàng loạt do nước biển bị nhiễm độc chất, trở thành thảm họa môi trường chưa từng có ở Việt Nam.

Cá chết dạt vào bờ biển miền Trung hồi đầu tháng 4.2016 sau cố môi trường Formosa. Ảnh tư liệu: TTO

Nước vốn có đặc tính bao dung, lan toả và hội nhập. Đặc tính này căn bản đồng nhất với đặc tính của văn hoá. Do đó, về tự nhiên, một khi môi trường nước bị ô nhiễm, thì về mặt xã hội tương ứng có thể xác định được là môi trường văn hoá cũng đang bị khủng hoảng. Con cá sống trong nước cũng giống như con người sống trong xã hội. Do đó, cá chết vì nước ô nhiễm chính là điềm báo nhãn tiền rằng: Con người cũng đang có nguy cơ!

4. Theo Đại Việt sử kí toàn thư, ngay từ thời đại Hùng Vương (cách nay hơn 3000 năm), người Việt đã thạo nghề đánh bắt cá để làm thức ăn, nên có tục xâm mình để khi lặn dưới nước, các loài thuỷ quái ngỡ là đồng loại mà không xâm hại. Điều này cũng thật dễ hiểu, bởi theo truyền thuyết thì vua Hùng chính là con của Lạc Long Quân/ vua Rồng, tức chúa tể của biển cả. Đến vua An Dương Vương, tuy không phải là con của vua Rồng nhưng vẫn phải cậy nhờ thế lực của thần Kim Quy ở chốn biển cả mới có thể dựng nên được thành Cổ Loa và lập nên nước Âu Lạc. Và đến bước đường cùng, vua cũng phải chạy ra phía biển để cầu cứu thần Kim Quy. Cũng tương truyền, thần đã rẽ nước rước vua về với chốn biển khơi. Như vậy, trong tâm thức của cư dân Việt, nước và biển cả chính là cội nguồn văn hóa dân tộc.

Đến thời kì độc lập tự chủ, các triều đại Việt Nam cũng tỏ ra gắn bó với sông nước và biển cả. Thậm chí, có huyền thoại kể rằng Đinh Bộ Lĩnh chính là con của thần Rái Cá. Nhiều bộ sử thành văn ghi nhận tổ tiên các vua nhà Trần làm nên hào khí Đông A chính là ngư dân đánh cá biển.

Chính bằng truyền thống và bản lĩnh trên sông biển đó mà nông dân và ngư dân miền Trung, cùng với chiếc ghe bầu đi biển, đã thực hiện thành công công cuộc Nam tiến, khai phá nên đồng bằng Nam Bộ phì nhiêu hôm nay.

Nhiều lớp lưu dân đó hầu hết đều gốc nông dân và ngư dân, nên bước đầu vào Nam họ đã áp dụng ngay sở trường đánh cá của mình để thích nghi với khung cảnh hoang sơ: “Nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá” (thứ nhất khai thác rừng, thứ nhì đánh cá). Chính vì vậy mà phần lớn nghi thức cúng việc lề (hình thức giỗ tộc họ) của các dòng họ ở Nam Bộ đều có thức cúng bắt buộc là cháo ám (cháo cá) và cá nướng trui, xem như kỉ vật thiêng liêng của ông cha thời khẩn hoang. Đồng thời, hầu hết các đình làng ven Đồng Tháp Mười đều thờ các sắc phong Đại Càn quốc gia Nam Hải tứ vị tôn thần – phúc thần phù hộ nghề đánh cá.

Riêng đối với đồng bào Khmer Nam Bộ, Ok-om-bok, một trong những lễ hội thu hút đông đảo người dân nhất, diễn ra vào rằm tháng 10 âm lịch, chính là lễ hội tạ ơn thần Nước là nghi thức tiễn nước lớn nhất trong năm và trong toàn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Đánh bắt lúc bình minh. Ảnh: Do Hieu Liem

5. Trong lịch sử Việt Nam, phần lớn các chiến thắng đều là các trận thuỷ chiến như: trận Bạch Đằng (năm 938, 981 và 1288), trận Như Nguyệt (năm 1077), trận Rạch Gầm – Xoài Mút (năm 1785), trận Nhựt Tảo (năm 1861), v.v. Điều đó cho thấy dân Việt rất thạo nghề sông nước, giỏi thuỷ chiến và đương nhiên giỏi đánh bắt cá. Bởi vậy mà ở Việt Nam có rất nhiều vị thần phù hộ nghề sông biển và đánh cá như: Tứ vị thánh nương/ thần Đại Càn, Nam Hải cự tộc ngọc lân tôn thần, Poriyak, Bà Cậu, Thuỷ Long, Hà Bá, v.v. Ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm chính là ngày lễ cầu ngư của ngư dân ven biển và Đồng Tháp Mười.

Đặc biệt, ở Long An, ngày cầu ngư mùng 10 tháng 3 âm lịch đồng thời là ngày kỉ niệm người anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực làm lễ xuất quân để đánh đuổi thực dân Pháp.

Có thể nói, lịch sử dân tộc Việt Nam gắn liền với sông nước, biển cả và với nghề cá. Do đó, cần phải hết sức bảo vệ môi trường sông biển và nguồn cá như là bản mệnh của mình.

Đặc biệt, từ năm 1992, Liên Hiệp Quốc quyết định chọn ngày 23.3 hằng năm làm “Ngày thế giới về nước”. Do đó, tìn ngưỡng sùng bái nước càng thêm ý nghĩa thời sự và mang tầm vóc nhân loại. Nó đã chọn đúng điểm đột phá trong công cuộc bảo vệ môi trường sinh thái: trước hết là bảo vệ môi trường nước.

Lê Công Lý

bài viết liên quan
Loading...
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.