Từ kinh nghiệm của thế giới:

Tìm lời giải cho bài toán công nhân và thành phố công nghiệp

 09:22 | Thứ tư, 22/12/2021  0
Sự quan tâm đến mối quan hệ giữa thành phố và công nghiệp không chỉ là mối quan hệ giữa thành phố và hoạt động kinh tế chủ đạo của nó mà còn là mối quan hệ giữa thành phố và lực lượng sản xuất chính của nó trong hiện tại và tương lai...

LTS: Thuộc số nước đi sau trong cuộc công nghiệp hóa, còn  thiếu những nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế công nghiệp, đô thị công nghiệp... Cuộc “khủng hoảng nhân lực lao động công nghiệp” trong đại dịch COVID-19 hiện nay đang đòi hỏi các giải pháp cấp bách, đồng thời cũng  đặt ra những yêu cầu cho công tác nghiên cứu khoa học. Người Đô Thị trân trọng giới thiệu bài viết của tiến sĩ xã hội học Nguyễn Đức Truyến về nội dung đó.

* * *

Sự rút chạy của công nhân khỏi các vùng dịch bệnh, đời sống cực khổ của họ, các doanh nghiệp đang kêu gọi công nhân trở lại nhà máy, các dự án xây nhà ở công nhân bắt đầu khởi động... là bối cảnh thời sự bài viết này.

Sự suy thoái của công nghiệp và giải pháp toàn cầu hóa

Kết thúc giai đoạn 1945-1975, được coi là giai đoạn của Ba mươi năm Vinh quang của các nền kinh tế đã phát triển ở châu Âu và phía bắc châu Mỹ (mô hình kinh tế được thống trị bởi công nghiệp), hướng tới nền kinh tế mới được chi phối bởi “tài chính, thương mại và dịch vụ”. Nền kinh tế mới đã "kết án" mô hình kinh tế chủ yếu dựa vào công nghiệp là lỗi thời, đại diện cho một thế giới cũ, là nguồn gốc gây ra thảm họa về môi trường và sự tha hóa của xã hội, nhường chỗ cho các quốc gia mới nổi.

Việc đưa ra ý tưởng về một thế giới hậu công nghiệp (của A. Touraine năm 1969), khi đó chi phối các diễn đàn văn học thế giới là minh chứng cho sự vận động thực tiễn này. Tuy nhiên sự suy thoái của công nghiệp liệu có ảnh hưởng tới vai trò của nó trong sự phát triển của xã hội hiện nay qua mô hình của các thành phố công nghiệp hiện đại?

Trong các xã hội phương tây đã phát triển, vào đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng công nghiệp (về cơ bản là những năm 1980) các chủ đề nghiên cứu về sự thích ứng của các nghành kinh tế và vùng lãnh thổ bị ảnh hưởng bởi sự suy thoái công nghiệp này đã nhanh chóng nhường chỗ cho các chủ đề liên quan đến toàn cầu hóa và sự thái quá của nó.

Người ta có xu hướng ghi nhận toàn cầu hóa như một giải pháp cho sự phát triển bền vững ở các nước tư bản phát triển, khiến cho ý tưởng về sự quan tâm đến các khu vực kinh tế trụ cột như nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng và thương mại và dịch vụ trở nên bị lu mờ, không còn hiệu lực. Trong cách tiếp cận này, công nghiệp chỉ xuất hiện như một hoạt động kinh tế bị tụt hậu sau tài chính, thương mại, di chuyển, giải trí... những lo ngại ấy được dành cho các nền kinh tế mới nổi ít quan tâm hơn về ô nhiễm và những điều kiện lao động. Đồng thời người ta thấy xuất hiện khái niệm “exurbanisation” hay sự chuyển các khu công nghiệp cũ ra khỏi các trung tâm thành phố nhường chỗ cho các trung tâm dịch vụ và thương mại thay cho khái niệm “urbanization” hay đô thị hóa gắn với công nghiệp hóa ở các trung tâm đô thị trước đây.

Công nghiệp hóa mới và đô thị hóa mới

Tuy nhiên từ cuối những năm 1970 trở lại đây, tại các nước phát triển của phương Tây, có một xu hướng “công nghiệp hóa và đô thị hóa” mới làm thay đổi hình ảnh của các thành phố hiện đại và do đó, làm thay đổi cách nhìn về vai trò của công nghiệp trong sự phát triển kinh tế xã hội và văn hóa của các nước phát triển hiện nay.

Đó là các thành phố được biến đổi bởi việc lắp đặt các nhà máy và các hệ thống sản xuất liên quan; các thành phố được tạo ra hoàn toàn và nhanh chóng bởi một nhà công nghiệp hoặc thường là bởi một số nhà công nghiệp theo một cách rất tiến bộ; các “làng công nhân”, thậm chí các khu công nghiệp bịêt lập không còn được nhận ra giữa các vùng nông thôn; các “thị trấn công nghiệp”, “thị trấn nhà máy”, “thành phố công ty” hoặc “thành phố doanh nghiệp”...

Thung lũng Silicon (Mỹ) là nơi tập trung của nhiều tập đoàn công nghệ lớn nhất thế giới. Ảnh: Jonathan Clark/Getty Images

Tuy nhiên với các nhà nghiên cứu, tất cả những khái niệm này, tất cả những cách thể hiện này đều tập trung, mà không phải lúc nào cũng được xác định một cách chính xác để giả định rằng chúng có thể phản ánh đúng các mối liên hệ giữa thực tại đô thị, đô thị hóa và công nghiệp.

Các nhà nghiên cứu về địa lý kinh tế cho rằng: “Nếu, giữa cách mạng công nghiệp, công nghiệp đã không phải là trọng tâm của các mối quan tâm của các nhà địa lý theo cách tiếp cận của Vidal (Deshaies, 2005), thì ngược lại, nó đã được nghiên cứu rất nhiều trong Ba mươi năm Vinh quang (1945-1975).

Thật vậy, trong bối cảnh của phát triển kinh tế và công nghiệp mạnh mẽ và sự phân chia thế giới thành các khối chính trị lớn với các lợi ích đối lập nhau, nghiên cứu địa lý ngày càng trở nên nhạy cảm hơn đối với các vấn đề kinh tế và đặc biệt là công nghiệp, với hoạt động cuối cùng này, gắn liền với sự bùng nổ khai thác mỏ, dường như là gốc rễ của mọi sự phát triển kinh tế và năng lượng”[1]. Do đó, việc thừa nhận tầm quan trọng của công nghiệp trong kinh tế, trong tăng trưởng đô thị hoặc thậm chí trong hệ thống phân cấp của các quốc gia trên hành tinh, đã khiến các nhà địa lý, chịu ảnh hưởng của một môn địa lý học về cơ bản có tính khu vực và  bị sơ cứng, đi đến rời bỏ khuôn khổ này và quan tâm đến ngành công nghiệp và địa lý của nó.

Cho đến cuối những năm 1970, dù phần lớn địa lý kinh tế thời đó đều được ghi nhận trong xu hướng của chủ nghĩa Mác theo thuyết duy sản xuất, nhưng vào năm 1978 cũng đã nhấn mạnh về "tầm quan trọng của phát triển công nghiệp để xác định về mặt địa lý một không gian nhất định (Quốc gia hoặc vùng)" trong một tầm nhìn tập trung vào “Người sản xuất hơn là người cư trú”.

Kết thúc của Chiến tranh Lạnh, đánh dấu sự gần như biến mất của địa lý công nghiệp như đã thực hành trước đây. Những mối quan tâm mới sau đó đã phát triển trong lĩnh vực này, được đánh dấu bởi sự quan tâm đến các vấn đề xã hội của các doanh nghiệp và mạng lưới của nó. Những phát triển này bắt đầu vào những năm 1960, như H.A. Stafford đã quan sát vào năm 2003: “Trong những năm 1960, có một cách tiếp cận phối hợp nghiên cứu cách các công ty tổ chức không gian. Điều này tạo ra một môn địa lý học về doanh nghiệp.”

 Lãnh thổ công nghiệp và văn hóa

Mérenne-Schoumaker (2011) giải thích rằng những lý thuyết về tổ chức không gian chỉ  là những đóng góp cơ bản ở cấp độ kinh tế, bởi vì chúng  cho thấy tầm quan trọng của việc kiểm soát chi phí, nhưng lại quá đơn giản hóa ở cấp độ không gian vì chúng không tính đến sự không đồng đều về mặt địa lý và chính trị của không gian. Vì vậy, mối quan tâm của các lý thuyết này về cơ bản là cho phép suy tư về các lãnh thổ công nghiệp, đặc biệt là ở khu vực sản xuất, nhưng sự phức tạp của đời sống xã hội, rốt cuộc khiến chúng không hiệu quả, nhất là ở quy mô địa phương và đặc biệt là ở thành phố.

Từ đó, dường như trong bước ngoặt của thế kỷ 20 và 21, nghiên cứu về công nghiệp ngày càng được hội nhập với các cách tiếp cận rộng hơn, tích hợp với các chiều cạnh của các mối quan tâm kinh tế có tính thống trị trước đây là các mối quan tâm xã hội, văn hóa, lịch sử, khu vực... Mối quan tâm kinh tế ngày càng gắn kết trở lại với sự phát triển của công nghiệp và những điều kiện kinh tế xã hội, chính trị và văn hóa của nó, tức sự phát triển của thành phố công nghiệp hiện đại, đặc biệt là các ý tưởng về sự thích ứng của công nghiệp và về văn hóa công nghiệp.

Hình ảnh TP.HCM trong những ngày giãn cách xã hội. Ảnh: Hữu Khoa


Cách tiếp cận bản sắc công nghiệp cho phép địa lý công nghiệp vượt ra khỏi giới hạn của mọi cách tiếp cận kinh tế, bởi vì "rõ ràng là cách tiếp cận văn hóa trong địa lý là một động lực mạnh mẽ để liên kết các bộ môn nghiên cứu trong khi cải thiện phạm vi và tính linh hoạt của địa lý kinh tế" (Stafford, 2003). Nhiều nghiên cứu về các khu công nghiệp[2] (Benko, Lipietz, 1992; Benko và cộng sự, 1996) đã làm sáng tỏ khía cạnh văn hóa của các tổ chức công nghiệp này, đặc biệt là xung quanh “bầu không khí” riêng biệt, vốn đặc trưng cho chúng.

Nền văn hóa công nghiệp được chia sẻ này là cơ sở cho sự thống nhất của cộng đồng trong lãnh thổ của nó và làm cho các lãnh thổ đô thị công nghiệp trở thành "một thực thể lãnh thổ xã hội" (Becattini, 1992). Nếu những cá nhân hay doanh nghiệp chia sẻ cùng một bản sắc văn hóa, của địa phương hoặc của ngành, họ còn được phân biệt bởi bản sắc cụ thể mà họ xây dựng (văn hóa doanh nghiệp).

Hiện tượng này đã được làm sáng tỏ ở cấp độ công nghiệp bởi hoạt động của nền kinh tế lãnh thổ xung quanh khái niệm  “vừa hợp tác vưà cạnh tranh" (coopétition) hay “các bên cùng thắng”, (Maillat, Kebir, 1999) mô tả sự hợp tác trong khu vực giữa các công ty vẫn cạnh tranh nhau về mặt kinh tế. Ở cấp độ xã hội hay cộng đồng lãnh thổ, bản sắc công nghiệp cho phép người ta duy trỳ các quan hệ cộng đồng trong doanh nghiệp và trong đời sống. Các quan hệ cộng đồng là cơ sở xã hội cho sự sống còn của doanh nghiệp và ngược lại.

Ở một số thị trấn công nghiệp ở Pháp, giới chủ là người địa phương không chỉ ưu tiên tuyển công nhân trong vùng, nhất là những người thất nghiệp, đào tạo nghề cho trẻ em, mà còn xây nhà ở cho người nơi khác đến thuê ở, trợ cấp xã hội cho các công nhân, cùng chia sẻ các mối quan tâm kinh tế, chính trị và xã hội trong cộng đồng và tổ chức các ngày lễ hội cộng đồng để tăng cường các quan hệ xã hội địa phương[3]

Mối liên hệ giữa thành phố và công nghiệp ở nước ta

Vào những năm 2008-2010, khi chúng tôi đi nghiên cứu về đô thị hóa ở xã An Khánh, thuộc vùng nông thôn của tỉnh Hà tây cũ, mới được sát nhập vào vùng ngoại vi của thành phố Hà nội, lúc đó An Khánh là nơi được chọn để xây dựng một khu đô thị vệ tinh ở ngoại vi thủ đô.

 Khu đô thị này bao gồm một làng nông nghiệp cũ của xã An khánh, một khu công nghiệp mới xây bên cạnh làng cũ và có đường ranh giới. Lúc đó các khu đô thị bao gồm các công trình dịch vụ và nhà ở dành cho công nhân mới được khởi công và phải mười năm sau mới hoàn thành (khu đô thị Bắc An khánh 2008-2018). Các công nhân (chủ yếu đến từ các nơi khác) thường thuê nhà ở hoặc mua nhà đất trong xã để ở.

Hầu hết đất nông nghiệp địa phương đã được thu hồi để chuyển sang xây dựng khu công nghiệp và đô thị, nên người dân trong xã, nhất là những người trong độ tuổi lao động đều phải chuyển từ nghề nông sang làm công nghiệp hay dịch vụ. Lúc đó tôi có cảm nhận đây chỉ là một làng công nhân chứ chưa phải một khu công nghiệp theo đúng nghĩa của nó, vì giữa làng An khánh và khu công nghiệp không chỉ cách biệt về không gian mà cả về tổ chức xã hội và kinh tế.

Cảnh sống của công nhân trong xóm trọ kề Khu công nghiệp Lê Minh Xuân. Ảnh tư liệu: Nguyễn Thế Sơn 


Trong quá trình chuyển đổi này các làng nông nghiệp như An khánh trở thành các “làng công nhân”, vì nó chủ yếu là nơi ở của những người công nhân từ nơi khác đến hay là người của làng nhưng đi làm công nghiệp ở các khu công nghiệp khác hay các làng công nhân khác trong vùng.  Chúng ta có thể chứng kiến hầu hết các làng này ở dọc các trục giao thông cao tốc các tỉnh như Bắc Ninh, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hải Phòng...

Khi các khu đô thị - công nghiệp này được xây dựng xong, các nhà máy đi vào hoạt động, các khu đô thị dần được hoàn tất, cùng tập hợp các làng trong khu đô thị công nghiệp trở thành các thị trấn hay thị xã công nghiệp như thị xã Từ sơn Bắc ninh hay trở thành “thành phố công nghiệp” như thành phố Chí linh, tỉnh Hải dương trong những năm gần đây. Trong khi tại các thành phố hay thị xã đã tồn tại từ trước thời kỳ hội nhập toàn cầu hóa lại có xu hướng chuyển các nhà máy hay khu công nghiệp ra các vùng ven đô để nhường chỗ cho các hoạt động thương mại và dịch vụ để tránh ô nhiễm và ùn tắc giao thông, và tận dụng giá thuê đất rẻ hơn ở trung tâm thành phố...

Điều này muốn nói rằng  quá trình công nghiệp hóa ở nước ta trong thời kỳ toàn cầu hóa đang là động lực thúc đẩy quá trình đô thị hóa và sự hình thành của thành phố công nghiệp với những biểu hiện đa dạng cả về quy mô và hình thức, như những gì đang diễn ra trên thế giới, từ sau 1975.

Trong quá trình hình thành và phát triển của các làng công nhân và các đô thị hay thành phố công nghiệp này, chúng ta luôn thấy sự có mặt của các nhà đầu tư công nghiệp và xây dựng, các nhà quy hoạch cấp thành phố hay tỉnh, tức là sự hình thành các khu đô thị hay thành phố luôn gắn liền với sự hình thành của các nhà máy hay khu công nghiệp. Tuy nhiên sự phát triển đô thị hiện nay, ngay cả ở các khu đô thị công nghiệp, các nhà đầu tư phát triển đô thị dường như vẫn chưa chú ý đến các chủ thể của nó là đội ngũ công nhân ngày càng chiếm tỷ lệ áp đảo ở các khu đô thị công nghiệp, nên sự phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội vẫn chưa chú ý đến cuộc sống của những người công nhân này, nhất là việc xây dựng nhà ở phù hợp với điều kiện thu nhập và sinh hoạt của họ.

Theo quy hoạch khu đô thị An Khánh, chỉ gần một nửa diện tích được dành để xây chung cư cao tầng cho những người công nhân thu nhập thấp, trong khi phân khúc dành cho các biệt thự và căn hộ liền kề có giá cao cho các hộ cư dân có mức thu nhập cao đã chiếm trên một nửa. Trong khi giá nhà chung cư hiện tại vào khoảng 10 triệu/m2, thì người công nhân, chỉ có sức lao động khi mới bắt đầu đi làm công nghiệp không thể mua được một căn hộ chừng từ 30 đến 70m2. Một bài báo gần đây trên báo Nhân dân nhận xét về điều kiện sống của công nhân các khu công nghiệp rất đáng lo ngại:

“Kết quả khảo sát cho thấy, hầu hết các khu công nghiệp trong cả nước chưa có quy hoạch về xây dựng nhà ở, cơ sở hạ tầng xã hội và các thiết chế văn hóa phục vụ công nhân, lao động; điều kiện sinh hoạt văn hóa, thể thao của công nhân, lao động hầu như chưa có; mức hưởng thụ về văn hóa của người lao động rất thấp. Với hơn 3,7 triệu công nhân, lao động đang lao động, sản xuất tại 284 khu công nghiệp, có tới hơn 70% trong số đó đang phải thuê nhà trong các khu nhà trọ thiếu tiện nghi.[4]”

Dòng người chạy xe máy về quê tránh dịch khi qua chốt Cai Chanh của tỉnh Đắk Nông. Ảnh: Bảo Lâm/Báo Lao Động


Sự quan tâm đến mối quan hệ giữa thành phố và công nghiệp không chỉ là mối quan hệ giữa thành phố và hoạt động kinh tế chủ đạo của nó mà còn là mối quan hệ giữa thành phố và lực lượng sản xuất chính của nó trong hiện tại và tương lai. Sự thiếu hụt lao động tại các khu công nghiệp sau đợt dịch COVID-19  ở nước ta vừa qua đang cho thấy vấn đề ổn định cuộc sống cho người công nhân có ý nghĩa ra sao khi nó làm nền kinh tế cả nước chậm phục hồi sau đỉnh dịch và làm đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên mối quan hệ giữa thành phố và công nghiệp đặt ra vấn đề lớn hơn là vấn đề quy hoạch và phát triển không chỉ của các thành phố mà còn phải đáp ứng những nhu cầu của sự hình thành và phát triển của công nghiệp trong bối cảnh đô thị hóa trong nước và toàn cầu hóa trên thế giới đang ngày càng mạnh mẽ hiện nay. Vì ở nước ta hiện chưa có các công trình nghiên cứu về chủ đề này nên chúng ta có thể tham khảo kinh nghiệm của các nước đi trước là các nước công nghiệp phát triển  cho phù hợp với nhu cầu của sản xuất công nghiệp và nhu cầu phát triển của thành phố công nghiệp hiện đại.

TS. Nguyễn Đức Truyến

______________________

[1] Simon Edelblutte, « Ville-usine, ville industrielle, ville d’entreprise…Introduction à des approches croisées du fait industrialo-urbain », Revue Géographique de l'Est [En ligne], vol. 58/3-4 | 2018.

[2] Antoine Grandclement District industriel et identité des entreprises, dans L’Espace géographique 2009/2 (Vol. 38), pages 97 à 109.

[3] Nicolas Renahy, Générations ouvrières et territoire industriel, La transmission d'un ordre ouvrier localisé dans un contexte de précarisation de l'emploi, dans Genèses 2001/1 (no42),pp. 47 - 71

[4] https://nhandan.vn/tin-tuc-xa-hoi/quan-tam-hon-nua-doi-song-tinh-than-cong-nhan-lao-dong-cac-khu-cong-nghiep-644168/

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm
bài viết cùng chuyên mục
Xem nhiều nhất

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.