Câu chuyện tháng Tư với gia đình anh Bảy

 11:51 | Thứ năm, 21/05/2026  0
Chúng tôi về thăm quê anh Bảy Nên đúng ngày giỗ chị Hai Bé, may mắn hơn là được ngồi chung bàn, vừa nhấm nháp những món quê ngon, vừa nghe anh kể chuyện “đời xưa” rất thân tình, gần gũi.

Trưa tháng Tư “Tây Ninh nắng nung người…”. Ông chủ quán nơi chúng tôi dừng xe chỉ tay sang bên kia đường: “Vô cái đường nhỏ kia là tới nhà anh Bảy. Bữa nay đám giỗ cô Hai, khách khứa đông, chắc ổng lu bu...”. Quả đúng là nhà có đông người nhưng hình như chỉ chúng tôi là khách, còn lại là người thân trong gia đình và bạn chiến đấu cùng chị Hai, nên chúng tôi được “ưu tiên” hơn, được “chủ nhà” - một nông dân hào sảng, mến khách, giản dị, chân thành tiếp đón rất niềm nở.

Trong ngôi “nhà thờ” kiểu nông thôn Nam bộ, hình ảnh Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Văn Nên ngày nào đã nhường chỗ cho một đứa con hiếu thảo, một người em ngoan hiền, một người anh ấm áp. Và không chỉ vậy...

Chuyện nghe, thấy ở đám giỗ

Ở gian thờ nơi chúng tôi thắp nhang cho những người đã khuất có treo mấy câu thơ khắc trên gỗ, khiến người đọc có thể cảm nhận được nhiều điều:

Suốt đời mẹ cùng cha bao lận đận/ Chín lượt sanh con, chín bận dời nhà/ Giặc truy tầm tá túc khắp làng xa/ Cha cùng mẹ vẫn nuôi con theo cách mạng/ Mẹ mất sớm cha kiên tâm gánh nặng/ Chăm dạy đàn con từng đứa trưởng thành/ Sống trọn nghĩa tình, chết cũng liệt oanh/ Ơn sinh dưỡng mãi khắc sâu tâm não

“Ba người chị tham gia cách mạng, chị Hai, chị Ba hy sinh, bữa nay là giỗ chị Hai”, chủ nhà vừa nhắc chúng tôi cầm đũa, vừa kể. Trong câu chuyện của anh về gia đình có cái trầm tĩnh của một người từng trải qua tuổi thơ dữ dội và thấu hiểu được giá trị của sự hi sinh, mất mát. Nó man mác một nỗi buồn nhưng không bi lụy. Nó tràn ngập yêu thương nhưng không tiếc nuối. “Năm 1967 khi sanh em gái út được 2 ngày, thì má mất…”. Mạch chuyện của anh nối dài từ cha, mẹ, chị Hai tới em út, đối với anh, gần như mỗi người là một biểu tượng, là gương sống, sự hy sinh, là những người phụ nữ mà anh đặc biệt yêu thương, kính trọng và mãi biết ơn.

Ông Nguyễn Văn Nên bên tượng chị Hai: Nguyễn Thị Bé (liệt sĩ, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân).


“Ở đời có những khúc quanh, những nhân duyên mà mình không thể ngờ tới được. Hồi đó, gia đình sống sum vầy, hạnh phúc trên mảnh đất ba má mua của một chủ sở người Pháp. Năm 1964, quân lính Sài Gòn đến chiếm lấy đất xây đồn bót, họ ra lệnh trong vòng 3 ngày nhà này phải dọn đi, nếu không sẽ bị ủi sạch (vì là gia đình Việt cộng). Từ hôm đó, gia đình mình bắt đầu một cuộc phiêu lưu đầy trắc trở, hiểm nguy chưa hề biết trước, rồi cả nhà bồng bế nhau đi tá túc khắp làng quê. Sau ngày đất nước thống nhất, gia đình định về sống trên mảnh đất vốn là của mình, nhưng đất đồn bót xưa bây giờ thuộc thành quả cách mạng, nên phải về quê ngoại để sống. Tàn cuộc chiến, má, chị Hai, chị Ba đã mất, đất cũng không còn. Ba phải một mình nuôi dưỡng đàn con. Tới năm 1983 ba ngã bệnh vì kiệt sức và mất luôn”, giọng anh Bảy như trầm xuống.

Dòng hồi tưởng của anh Bảy bị cắt ngang bởi sự xuất hiện của một người đàn ông khá đặc biệt. Đặc biệt bởi ông chỉ có một cánh tay và cánh tay ấy chỉ còn một phần của bàn tay với hai đốt của ngón tay cái và ngón út. Đặc biệt còn bởi ông nói to, cười lớn. Anh Bảy Nên đặt tay lên vai người thương binh vừa ngồi xuống cạnh mình: “Về vai vế, ổng kêu tôi bằng chú nhưng ổng lại là bạn chiến đấu của chị Hai. Bàn tay và cánh tay này ổng đã dâng tặng quê hương.  Sáng hôm đó (1969) ổng và chị Hai bị địch phát hiện trong một khu rừng vắng... Ổng là Phan Văn Gởi, 74 tuổi, thương binh loại 1/4”. 

Ông Gởi kể: “Cô Hai lúc đó là bí thư, tui là xã đội trưởng. Hôm đó hai cô cháu đang đi trong rừng thì bất ngờ đụng địch đi càn sớm, tui và cô chui xuống hầm bí mật. Nhưng họ đã phát hiện và lập tức bu quanh miệng hầm kêu đầu hàng. Không ai bảo ai, cô Hai lo xé hết tài liệu, tui chuẩn bị khẩu súng nạp đầy đạn và nhắm thẳng nắp hầm xả súng, rồi hai cô cháu tông lên chạy, tui quay súng bắn tiếp. Tụi lính chủ quan nghĩ rằng mấy người dưới hầm chỉ có nước đầu hàng thôi nên không đề phòng. Sáng sớm sương mù dày đặc lẫn khói bụi bay, tụi lính bị bất ngờ không kịp trở tay, đội hình hỗn loạn, không thể bắn thấp vì sợ nhầm nhau. Xế chiều cô Hai về tới căn cứ báo cáo là tui đã chết, còn tui khi về gặp anh em cũng nói là cô Hai đã chết. Rốt cục hai cô cháu may mắn sống sót, nhưng tui bị bắn rớt hết mấy ngón của bàn tay trái...”.

Ông Nguyễn Văn Nên gặp gỡ ông Phan Văn Gởi - người thương binh chỉ còn một cánh tay với bàn tay không đủ ngón.


“Còn cánh tay phải...?”, tôi ngập ngừng. Ông cười: “Là bị thương lần sau đó nữa. Vùng này hồi xưa ác liệt lắm”. Ngày hòa bình, ông Gởi mới 23 tuổi, “rất trẻ, đẹp trai” như lời ông nói. “Đi chiến đấu sống chết vô chừng, không có thời gian nghĩ tới bản thân nhưng khi hòa bình, có những lúc chợt thấy trống trải, hụt hẫng”. Cái tâm sự ấy của ông Gởi trong một lần uống rượu với bạn đã bật ra: “Tui thương tật tới 93% như vầy chắc đâu có ai thèm lấy!”. Lời cảm thán ấy đến tai một cô gái xinh đẹp ở xã bên, cô đem lòng quý mến, cảm phục rồi yêu thương. Kết quả của mối tình ấy là 5 đứa con lần lượt ra đời. “Đúng là cái số của tui may mắn, chắc là cô Hai phù hộ”, ông lại cười, giọng rổn rảng.

Câu nói của ông Gởi kéo mọi người quay về với nhân vật chính của buổi hội ngộ hôm nay: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thị Bé. “Chị Hai tham gia cách mạng năm 1961 khi mới 17 tuổi. Chị hy sinh năm 1973 trong một trận chống càn lớn. Năm đó chị vừa tròn 29 tuổi và đang mang thai 6 tháng...”, người em trai ngừng lại rất lâu khi kể điều này. Mắt anh nhìn xa xăm. Tôi không biết anh nghĩ gì, riêng tôi thấy mắt mình cay cay.

Rất lâu sau anh Bảy mới kể tiếp câu chuyện “nhân duyên” của miếng đất, ngôi trường và người nữ anh hùng: “Sau ngày giải phóng chị em trong gia đình định làm đơn xin lại miếng đất. Mấy chị em suy nghĩ, trăn trở rất nhiều, bởi xương máu còn hi sinh được thì đất đai có nghĩa gì đâu, hơn nữa bây giờ đã là trường học, là nơi dạy dỗ con cháu mình. Chị Năm khuyên các em, hãy quên đi. Nhưng đời đã không quên. Gần đây các đồng chí trong hội cựu chiến binh huyện đề xuất lấy tên liệt sĩ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thị Bé đặt cho trường. Một câu chuyện hy hữu khi tên chị Hai được đặt cho ngôi trường được xây trên chính mảnh đất của ba má hồi xưa”.

Một kết thúc có hậu, như lời anh Bảy nói là “chắc do ông bà phù hộ”...

Những điều giản dị về tình yêu

Câu chuyện của anh Bảy Nên cũng tự nhiên như bản tính vốn có của anh, là điều mà chúng tôi cảm nhận về anh khi đối diện, và cũng như nhiều người từng giữ cương vị cao hơn anh, có những lời ruột gan dành cho người thân, cho bè bạn chí cốt; cho những người có thể hiểu, chia sẻ hoặc cất giữ cho riêng mình chứ không phải để viết, đăng này khác làm gì.

“Thưa ông Bảy con đi học” - dòng suy nghĩ của tôi bị cắt đứt bởi câu nói của một đứa trẻ. Tôi quay sang nhìn. Một cô bé trạc 6 - 7 tuổi vòng tay thật tròn. Lại thêm mấy đứa nữa đến khoanh tay chào “ông Bảy” để tới trường. Cách chào và tiếng chào của mấy đứa nhỏ thật đĩnh đạc, tự nhiên, toát lên cái nề nếp của sự giáo dục gia đình. Đứa nhỏ nào cũng được anh Bảy ôm một cái với câu: “Ừa, con đi học ngoan nghen”. Cứ ngỡ cử chỉ dịu dàng đó của anh Bảy chỉ dành cho con cháu trong nhà. Vậy mà, thật bất ngờ khi chúng tôi được chứng kiến câu chuyện nhỏ xảy ra hôm ấy. Một người khách dự đám giỗ trên đường về nhà nhắn cho anh: “Anh Bảy ơi, phiền anh coi có thấy cái xe đồ chơi của cháu tôi rớt ở nhà anh không nhen”. Lát sau anh Bảy nhắn lại: “Đã tìm thấy cái xe đồ chơi của cháu bé rồi. Chị nhớ nói với cháu bé vậy để cháu yên tâm ngủ ngon nhen”. Vài ngày sau, chiếc xe đồ chơi đã được anh Bảy nhờ người đem đến cho cháu bé.

Ông Nguyễn Văn Nên trao tặng học bổng cho học sinh tại sự kiện khánh thành Trường THCS Nguyễn Thị Bé ở Gò Dầu, Tây Ninh ngày 21.12.2023. Ảnh: Duy Hiệu


Trong những câu chuyện được nghe hôm đó, tôi đặc biệt ấn tượng về tình yêu mà anh dành cho “những người phụ nữ” của anh: “Đời tôi may mắn được sống trong gia đình có nhiều người phụ nữ tôi yêu quý, kính trọng và biết ơn. Năm 1967, má mất khi sanh đứa con cuối cùng mới hai ngày, hai trong ba người chị tham gia cách mạng hy sinh. Đứa em gái út, dù được cha và cả nhà yêu thương, nhưng cũng không bằng má, lại bị bệnh tim bẩm sinh. Nó chặt lòng, chặt dạ, ở nhà thờ cúng, từ nhỏ tới giờ. Nhiều lần tôi bảo nó bán đất này đi theo anh, anh sẽ nuôi em. Mà nó nói không, để em giữ đất, giữ nhà, anh cứ đi làm cách mạng, khi nào xong nhiệm vụ thì về có chỗ mà ở”. 

Cái cách anh Bảy Nên nói về em gái út khiến người ta nhận ra trong đó không chỉ là tình thương yêu máu mủ ruột rà mà còn có sự kính trọng, biết ơn vì em đã gánh vác thay anh trọng trách của “trưởng nam” trong gia đình. Anh kể, giọng thật trìu mến: “Hôm Đại hội Đảng XIV, lãnh đạo tặng cho những đồng chí lãnh đạo không tái cử một phần quà nhỏ nhưng ý nghĩa, dành tặng cho người thân yêu nhất của mình. Tôi chưa lập gia đình riêng nhưng cũng nhận được phần, tôi báo cáo với Tổng bí thư là quà này tôi mang về tặng đứa em gái út. Nó ở nhà suốt, mấy chục năm nay không đi đâu, chưa ra Hà Nội, chưa biết lăng Bác Hồ... Cũng may, có ông bà, cha mẹ phù hộ, nó khỏe đến giờ, nếu không thì tôi không thể nào đi hết đoạn đường nhiệm vụ được giao”.

Gần 70 năm cuộc đời, hoàn thành nhiệm vụ với đất nước, đứa con ấy lại quay về nơi mình được sinh ra và nuôi lớn. Anh Bảy nói như tâm sự: “Tại sao về già người ta hay hướng tâm hồn mình về quê hương? Là vì nơi đó có cái phần dưới đất là tổ tiên ông bà, cha mẹ, anh chị em... Đó chính là gốc rễ, cội nguồn, là sợi dây vô hình níu giữ mỗi người quay về với nguồn cội của mình”.

Anh lại giục chúng tôi ăn, lại gọi con cháu lấy thêm món này, món khác. Trông anh thật vui, thật phấn chấn dù tối hôm trước anh đáp chuyến bay từ Hà Nội về Sài Gòn rất muộn.

Có lẽ chỉ trong ngôi nhà của cha mẹ mình, anh mới được thật sự là mình như vậy...

Một câu chuyện bên lề

Một người thân của gia đình anh Bảy ngồi cạnh tôi trong đám giỗ “bỏ nhỏ”: “Chị hỏi ổng coi cái cô gì đó hồi trước mua nửa ổ bánh mì cho ổng ăn ở rạp Thủ Đô giờ ra sao rồi?”. Nghe tôi hỏi, anh Bảy cười hiền khô: “Chuyện nhỏ thôi mà. Hồi đó tôi làm cảnh sát hình sự. Trên địa bàn xảy ra vụ án giết người cướp của táo tợn giữa ban ngày. Thủ phạm dùng dao đâm người xe ôm, lấy xe máy, giấy tờ, rồi tẩu thoát. Qua điều tra, phát hiện hai nghi phạm dùng thủ đoạn thuê xe ôm đi đến đoạn đường vắng giết ông để lấy xe. Đó là hai thiếu niên tên Th. và Â. Khi bắt điều tra với các chứng cứ không thể chối cãi, Â. đã khai nhận là người trực tiếp cầm dao đâm, Th. là chủ mưu, đã lẩn trốn...”.

Ban chuyên án cử Bảy Nên dẫn theo Â. về Sài Gòn phục bắt Th. Cùng đi còn có một số anh em trinh sát công an huyện và tỉnh hỗ trợ vòng ngoài. Tới Sài Gòn, Bảy Nên hóa trang bụi đời, cùng Â. đến những nơi Th. thường đến, tối mướn chiếu ngủ tại bến xe Chợ Lớn. Nhưng đã hai đêm trôi qua mà không thấy tăm hơi của Th. Đêm thứ ba Bảy Nên mới hỏi Â. vì sao? Â. nói một là Th. ngủ bên rạp Thủ Đô, hai là có thể mình bị lộ. “Bây giờ nếu mày đi một mình thì có tìm được Th. không?”. Â. nói được. “Vậy tao để cho mày đi một mình”. Â. đồng ý. Bảy Nên dặn nó dù tìm được hay không thì đúng 4 giờ sáng phải gặp nhau ở rạp Thủ Đô để cùng về. 

Â. đi rồi, Bảy Nên cùng anh em trinh sát tới điểm hẹn. Rạp Thủ Đô thời ấy là một trong những nơi tựa lưng của dân bụi đời về khuya. Bảy Nên trà trộn vô đó để nghe ngóng. Thấy có người lạ xuất hiện, nhiều người xúm lại hỏi han. Bảy Nên nói mình ở miền Tây bị truy nã chạy lên: “Lúc đó chỉ lo giữ cái tóc giả kẻo bị rơi, không chỉ hỏng việc mà khả năng bị dập te tua là cái chắc. Mấy cô gái ngồi cạnh an ủi, lục túi không có tiền, chắc đang đói lắm, một em bỏ đi chút xíu đem về cho tôi nửa ổ bánh mì, bịch trà đá và điếu thuốc Đà Lạt. Thú thật, chuyện nhỏ đó đã theo tôi đến tận bây giờ". 

Ngừng một chút, anh Bảy kể tiếp: "Mấy anh em trinh sát ngồi bên kia đường nóng ruột báo hiệu đã hơn 4 giờ sáng vẫn không thấy Â. quay lại như đã hẹn. Tôi nghĩ bụng, phen này mà Â. trốn luôn thì mình rắc rối to, thả một tên giết người giữa chợ. Sau cuộc hội ý nhanh, mọi người đều nín lặng. Tôi xin nhận hết trách nhiệm vì hành động đơn phương mạo hiểm này, anh em về trước báo cáo sự thật với lãnh đạo, tôi ở lại đến khi tìm gặp tụi nó thì mới về”. 

"Chúng tôi thường xuyên nhắc nhau là, cứ xem như mình đã chết, để khỏi lo sợ chết, mới dám xông ra để cứu dân, trong hoàn cảnh vô cùng ngặt nghèo, nằm ngoài mọi sự tưởng tượng..."

Nhưng anh em thương Bảy Nên quá nên dặn nhau về im re không báo cáo. Tới ngày hôm sau nữa vẫn bặt vô âm tín. Túi không còn một xu, Bảy Nên quyết định quay về để báo cáo đầu đuôi sự việc rồi lãnh đạo xử sao chịu vậy:  “Nghe mình báo từng lời, từng ý, các đồng chí trưởng và phó công an huyện lặng người nhìn nhau, mồ hôi trán rịn ra, như muốn nói điều gì đó rồi lại thôi, có lẽ trong lòng người lãnh đạo lúc này vừa thương, vừa giận, vừa tiếc. Lúc đó mình chắc mẻm trong bụng sẽ bị nhốt thay vào chỗ thằng Â. Có điều là mấy anh quá bất ngờ, vừa bàng hoàng và cũng đáng tiếc khi buộc phải quyết định bắt nhốt mình nên còn chần chừ...”. 

Ngay lúc đó ngoài cổng cơ quan bỗng có tiếng la rần rần: “Thằng Â., thằng Th. về rồi!”. Bảy Nên bật dậy định chạy ra nhưng hai đầu gối cứ quíu lại: “Thấy hai thằng nhỏ dắt nhau vào cổng, mình nhào tới ôm chầm lấy tụi nó, tụi nó cũng ôm chặt lấy mình...”. Cái ôm ấy là đoạn kết có hậu của câu chuyện niềm tin con người và sự liều lĩnh đến tội nghiệp. 

Khi có người hỏi Â. vì sao gặp được Th. rồi mà hai đứa không nhân cơ hội đó trốn đi luôn, cả hai đứa đều nói “ổng (tức Bảy Nên) tin mình, mình không nỡ trốn để ổng bị họa, với lại ra đầu thú thì chắc chắn sẽ được giảm nhẹ tội như ổng nói”. 

Sau câu chuyện Â. và Th., Bảy Nên rút ra được nhiều điều cho bản thân trong công việc, nhưng trong thâm tâm anh vẫn có niềm tin mãnh liệt vào con người, dù như thế nào họ vẫn còn một phần phẩm chất người để tiếp tục sống. “Hiện giờ Th. đã chết, còn Â. thì mình đang nhờ anh em tìm, hy vọng sớm gặp lại nó. Thật lòng là mình rất thương hai đứa, vi phạm pháp luật lúc tuổi còn non dại, khi đã hiểu ra thì can đảm chịu tội, không trốn chạy, không thất hứa, không phản bạn”.

Không ai muốn có chiến tranh để mình thành anh hùng

Lúc sắp chia tay, chúng tôi nói với anh Bảy sẽ đi thăm vài nơi từng là căn cứ của Trung ương Cục Miền Nam để hiểu thêm về cuộc sống hòa bình ở những nơi chiến tranh từng diễn ra rất lâu dài và ác liệt. “Còn anh, mỗi dịp tháng Tư anh nhớ nhất điều gì?” - tôi nói nhỏ với anh Bảy như một cảm xúc hơn là một câu hỏi.

Và anh Bảy cũng đáp lại bằng một tâm sự như đã cất giấu sẵn đâu đó trong lòng: “Nhiều cảm xúc lắm. Hồi còn nhỏ xíu, tôi thường xuyên ra vô khu căn cứ trong rừng, từng được các cô chú dạy dỗ, tôi từng chứng kiến sự gian khổ, hy sinh của người chiến sĩ cách mạng và gia đình mình cũng trong hoàn cảnh đó. Ngày giải phóng, mừng vui không kể xiết, khi mọi người đang phấn khởi chào đoàn quân chiến thắng trở về, tôi chạy ngược về nhà, vừa tới cửa tôi khựng lại, bước nhẹ vô nhà bỗng dưng muốn khóc, vì nhà mình không còn ai trở về! Lúc đó lòng tôi thầm mong chị Hai, chị Ba còn thất lạc đâu đó nay mai sẽ về... Nhiều gia đình khác chắc cũng có ý nghĩ đó như tôi. Chẳng có ai mong chiến tranh để mình thành liệt sĩ, anh hùng…”.  

“Theo cách mạng “từ hồi còn nhỏ xíu”, điều gì khiến anh sợ nhất?” - “Chiến tranh, đại dịch, mất mát và chia ly là những thứ tôi sợ nhất. Tôi luôn nghĩ, ai sinh ra trên đời cũng phải gánh lấy một sứ mệnh với chính sự hiện diện của mình”. 

Ngày 30.3.2026 tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã trao Huân chương Quân công hạng Nhất tặng các lãnh đạo: Phạm Minh Chính (Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Thủ tướng Chính phủ), Nguyễn Hòa Bình (Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ), Phan Đình Trạc (Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII, nguyên Trưởng ban Nội chính Trung ương), Nguyễn Văn Nên (Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Thường trực Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV của Đảng). Ảnh: Thống Nhất 


Hẳn là với tâm thế ấy, Bảy Nên đã sống và làm việc một cách hết mình, ngay cả trong hoàn cảnh được giao trọng trách Bí thư Thành ủy TP.HCM mới vài tháng thì đại dịch Covid-19 ập đến.

“Như chúng ta đều đã biết - anh Bảy tiếp dòng hồi tưởng về giai đoạn đặc biệt khó khăn 6 năm trước ấy - Hầu hết mọi sự chuẩn bị đều không đáp ứng đủ. Mọi kế hoạch, phương án, đều bị phá vỡ. Một thử thách chưa từng có tiền lệ. Lúc đó, mọi hành động, việc làm đều có ý nghĩa sống còn và không có việc gì được xem là nhỏ. Chúng tôi thường xuyên nhắc nhau là, cứ xem như mình đã chết, để khỏi lo sợ chết, mới dám xông ra để cứu dân, trong hoàn cảnh vô cùng ngặt nghèo, nằm ngoài mọi sự tưởng tượng. Lúc đó tôi đã nghĩ thành phố phải mất rất nhiều thời gian mới hồi phục được. Vậy mà thành phố đã bật dậy, một cách phi thường. Qua đại dịch chúng ta càng thấy rõ hơn về sức mạnh của nhân dân, tình dân tộc, nghĩa đồng bào… Làm sao quên được những ngày tháng cam go, khốc liệt ấy”. 

Kể tới đó, anh Bảy bỗng dừng ngang câu chuyện, chống tay lên trán để che đôi mắt ngân ngấn, đỏ hoe. Có lẽ anh chạnh nhớ những lời cha dạy mà anh đã cho khắc thành thơ lên một tấm gỗ treo cạnh bàn thờ cha mẹ và các chị: 

Ai hay chịu khó mới nên trò/ Biển rộng trời cao sách mấy pho/ Nợ nước thân trai mau gắn bó/ Công cha nghĩa mẹ phải toan lo/ Nắng mưa tơi áo ai đùm giúp/ Tiền bạc nghèo hèn ít kẻ cho/ Bởi biết công danh là thế đó/ Ai hay chịu khó mới nên trò… 

Bài: Lệ Thủy - Ảnh: Trung Dũng

bài viết liên quan
để lại bình luận của bạn
có thể bạn quan tâm

Đọc tin nhanh

*Chỉ được phép sử dụng thông tin từ website này khi có chấp thuận bằng văn bản của Người Đô Thị.